Ngày hôm nay Kỷ Vân Hành cũng không nhàn rỗi.
Tối qua nàng ăn cơm nước ôi thiu khiến cả đêm bụng dạ khó chịu vô cùng, ngủ cũng không được yên, chờ đến hừng đông nàng mới ra ngoài đi đến tiệm thuốc.
Bởi vì từ nhỏ cơ thể đã yếu, cứ bệnh nhỏ bệnh lớn liên miên không dứt, trên đường phố Đông thành có một thầy lang nữ, cũng coi như nhìn nàng lớn lên, cứ mỗi lần bị bệnh Kỷ Vân Hành đều đến tìm bà.
Mua thuốc xong, Kỷ Vân Hành lại đi sang cửa tiệm bán đậu hũ bên cạnh, trong tiệm cũng không đông khách, chủ tiệm nhìn thấy nàng tới liền hỏi: “Con lại bệnh à?”
Kỷ Vân Hành đặt gói thuốc lên bàn, gật đầu nói: “Dạ, dì bỏ nhiều đường cho con nhé.”
“Hôm nay ta mới làm mứt táo xong, để ta bỏ cho con một ít.” Chủ tiệm vừa nói vừa đi ra sau bếp, còn không quên thở dài nói: “Hữu Hữu à, sao con cứ bệnh mãi thế.”
Bà chủ bán đậu hũ tên là Sở Tình, nếu như không nói ra tuổi tác mà chỉ nhìn khuôn mặt của bà, không ai đoán ra được bà đã gần năm mươi.
Trên mặt dường như hiếm thấy nếp nhăn nào, làn da trắng mịn, lúc nói chuyện bên môi còn vương ý cười, thoạt nhìn trông giống như dáng vẻ của nữ nhân chỉ hơn ba mươi tuổi, bà thật sự là một mỹ nhân duyên dáng. Không chỉ thế, đậu hũ bà ấy làm cũng cực kỳ thơm ngon, vì thế nên nam nhân đến mua đậu hũ rất đông, mà nữ nhân cũng không ít.
Bà ấy đến Linh Châu vào hai năm trước, lúc Kỷ Vân Hành gặp được Sở Tình, bà còn đang xổ khẩu âm vùng khác để hỏi đường.
Kỷ Vân Hành cầm một xiên kẹo hồ lô đứng bên cạnh nhìn chằm chằm một hồi lâu, thấy người xung quanh không hiểu bà đang nói gì, nàng liền chủ động đi tới giúp đỡ.
Nhưng thực chất Kỷ Vân Hành cũng không nghe hiểu những lời Sở Tình nói, lúc nàng dùng đôi mắt tràn ngập vẻ nghiêm túc đó nói mình có thể giúp đỡ đã thành công lừa được Sở Tình, thế là sau khi Kỷ Vân Hành dắt bà đi vòng khắp trong thành cả một buổi chiều, Sở Tình mới nhận ra, tiểu cô nương này hoàn toàn không hiểu lời mình nói, càng không biết mình đang muốn tìm ai, hoàn toàn chỉ đang dẫn đường theo “tổ tiên mách bảo”
Lúc ban đầu, Sở Tĩnh còn tưởng rằng vùng đất Linh Châu này bài xích người vùng ngoài, ngay cả một tiểu cô nương cũng muốn trêu đùa một người từ bên ngoài đến như bà.
Nhưng về sau bà mới phát hiện ra, Kỷ Vân Hành không có ý đùa giỡn, nha đầu này thật tâm muốn giúp đỡ, chẳng qua là vì đầu óc của nha đầu này rất đơn giản, không có cân nhắc xem mình có thể giúp được hay không mà thôi.
Nếu như đổi lại là người khác, sợ rằng sẽ khiến họ cho rằng người này có hành vi xấu, vô duyên vô cớ đi bỡn cợt người ta, nhưng dáng vẻ khờ khạo của Kỷ Vân Hành có lẽ không phải cố ý, đơn thuần chỉ là thiện ý xuất phát từ sự ngốc nghếch mà thôi.
Từ đó về sau, Sở Tình đã kết thân với Kỷ Vân Hành, chỉ cần là những lúc Kỷ Vân Hành bị bệnh đến mua thuốc, nàng sẽ ghé vào tiệm của Sở Tình ăn một bát đậu hũ.
Bát đậu hũ này không tốn tiền, là sự an ủi mà Sở Tình dành cho nàng khi nàng bị bệnh.
Bát đậu hũ được bưng lên đặt ở trên bàn trước mặt Kỷ Vân Hành, một bát đầy ụ, bên trong còn rải thêm nho khô, mứt táo. Thực ra đậu hũ không ngọt đến thế này, ăn vào miệng chỉ có hương hoa nhàn nhạt, nếm kỹ mới cảm giác được chút ngòn ngọt nơi đầu lưỡi. Kỷ Vân Hành thích ăn ngọt, thế nên mỗi lần nàng đến Sở Tình đều sẽ bỏ thêm nhiều mứt hoa quả cho nàng.
Kỷ Vân Hành đang ngồi đó, nhìn thấy trong bát đầy ắp mứt ngọt, nàng lại đứng dậy cúi người với Sở Tình: “Cảm ơn dì Tình.”
“Ăn đi.” Sở Tình mỉm cười nhìn nàng: “Nha đầu mới bao lớn mà biết lễ nghĩa nhiều nhỉ.”
Nói xong, bà cầm gói thuốc bên cạnh lên đi vào nhà bếp sắc thuốc cho Kỷ Vân Hành.
Trong viện nàng ở không có nồi niêu, nàng cũng không biết tự sắc thuốc, cho nên lần nào cũng đến nhờ nấu thuốc ở chỗ Sở Tình, bà cũng đã quen với việc này.
Trong cửa tiệm đậu hũ nho nhỏ thoáng chốc đã tràn ngập mùi thuốc nồng nàn, một phần là đến từ y quán bên cạnh, phần còn lại là từ siêu thuốc Sở Tình đang nấu.
Sở Tình bận rộn xong việc mới ngồi xuống đối diện Kỷ Vân Hành, ánh mắt dừng lại trên khuôn mặt của nàng, ngắm nhìn tiểu cô nương dùng thìa ăn từng muỗng đậu hũ, đôi mắt trở nên dịu dàng đầy từ ái.
Kỷ Vân Hành là một đứa trẻ rất ngoan, giống như lần đầu tiên gặp mặt, nàng đứng bên đường ăn kẹo hồ lô, chắc là ai đó đã dạy nàng cẩn thận để không bị que xiên đâm vào miệng nên nàng đã cẩn thận gỡ từng quả táo gai xuống để ăn, làm đôi má phồng lên trông vô cùng đáng yêu.
Cũng chính cái dáng vẻ vụng về ấy đã khiến Sở Tình đi theo nàng khắp thành suốt một buổi chiều.
“Thời gian gần đây bệnh của Hữu Hữu đã bớt tái phát, ta cũng ít gặp con hơn.” Sở Tình đưa tay vén lọn tóc rối ra sau tai nàng.
Kỷ Vân Hành ngẩng đầu: “Không bệnh cũng có thể đến thăm dì Tình mà.”
“Vậy sau này con phải đến nhiều hơn nhé, dì làm nhiều kẹo đậu lắm, dì để dành cho con ăn.” Sở Tình vừa nói vừa đưa tay lau đi giọt nước rỉ ra ở khóe miệng nàng.
Kỷ Vân Hành đã quen với những động tác chăm sóc nhỏ nhặt của Sở Tình. Sở Tình nhìn có vẻ già dặn và bạc tình như thể nửa đời người chưa kết hôn, nhưng thực ra bà từng có một đứa con gái, tuổi cũng xấp xỉ với Kỷ Vân Hành.
Bà thường nhìn Kỷ Vân Hành với ánh mắt dịu dàng, như muốn xuyên qua nàng để nhìn thấy một cô bé khác, sau đó lại buông tiếng thở dài: “Nếu Ngọc Ngọc của ta còn sống, chắc cũng đã lớn bằng con rồi.”
Có lẽ đây cũng là lý do khiến Sở Tình đặc biệt quan tâm đến Kỷ Vân Hành.
“Dì Tình, mấy hôm trước con nhặt được một chú chó con.” Kỷ Vân Hành đột nhiên đổi chủ đề, vừa ăn đậu hũ vừa kể: “Con đặt tên cho nó là Học Học. Mấy hôm trước nó còn rất ngoan, không bao giờ sủa bậy, nhưng không hiểu sao tối qua lại đột nhiên sủa ầm lên với con, thậm chí còn định cắn con. Đó là vì sao?”
Sở Tình lộ vẻ ngạc nhiên: “Con nhặt nó ở đâu?”
“Ở chợ Đông Thành.”
Kỷ Vân Hành ghi sổ sách cho họ Tiết ở chợ Đông Thành, việc này Sở Tình biết rõ.
Tiết đồ tể trả công rất hậu hĩnh, mỗi lần tính sổ sách đều trả nàng năm mươi văn tiền, một tháng cũng có hơn ba trăm văn tiền công.
Đừng thấy Kỷ Vân Hành ngốc nghếch, nhưng thực ra nàng sắp xếp cuộc sống rất ngăn nắp, bình thường còn có thể ra phố mua những thứ mình thích ăn.
“Vậy con phải cẩn thận đó, trước đây ta nghe nói có người bị chó dại cắn, sau đó mắc bệnh vô phương cứu chữa, uống bao nhiêu thuốc cũng không khỏi, chẳng bao lâu sau đã chết.” Sở Tình nói: “Có lẽ con chó mà con nhặt về là một con chó dại rồi.”
Kỷ Vân Hành nghe vậy thì sợ hãi, nhưng nghĩ đến con chó lông trắng xù hay cọ cọ vào chân và lòng bàn tay của nàng, trong lòng nàng lại do dự: “Nhưng nhiều lúc nó rất ngoan mà.”
“Chắc là một con chó tính tình thất thường thôi.” Sở Tình nói nhỏ: “Chó con có thể huấn luyện, trở về con hãy dạy nó, sau khi tạo thói quen thì nó sẽ không sủa bậy nữa.”
Kỷ Vân Hành khiêm tốn xin bà chỉ giáo, Sở Tình liền dạy nàng một số cách đơn giản để huấn luyện chó con, một bát đậu hũ ăn mất cả một canh giờ.
Sau đó, Sở Tình mang bát thuốc đã nguội ra cho nàng uống.
Kỷ Vân Hành gần như ngâm mình trong bát thuốc để trưởng thành, từ lâu đã quen với vị đắng chát của thuốc sắc, uống vào miệng mà chẳng nhăn mày. Sau khi bình thản uống hết bát thuốc, Sở Tình đưa cho nàng hai viên kẹo tròn tròn to bằng móng tay, toàn thân có màu nâu bóng.
Những viên kẹo này cũng do Sở Tình tự tay làm ra, đôi khi có trẻ con đến mua đậu hũ, bà sẽ tặng cho mỗi đứa một viên, cắn vỡ kẹo là ngọt cả miệng. Kỷ Vân Hành là đứa trẻ được Sở Tình đặc biệt thiên vị, mỗi lần nàng đến ăn đậu hũ uống thuốc, bà đều cho nàng hai viên kẹo.
“Về nhớ xem con chó đó của con là đực hay cái, chó đực tính tình hung hãn hơn, nếu nó không nghe lời mà còn cắn lung tung thì con đem thả nó đi, kẻo nó phát điên làm hại đến con.” Bà dặn dò Kỷ Vân Hành.
Kỷ Vân Hành vừa nhai kẹo vừa ghi nhớ những lời này, sau đó cầm lấy túi mứt táo mà Sở Tình đã gói sẵn cho nàng, vừa cảm ơn vừa tạm biệt rồi rời khỏi quán đậu hũ.
Trên đường trở về nàng cứ mãi suy nghĩ, mặc dù Sở Tình nói rằng bị chó dại cắn thì vô phương cứu chữa, nhưng nếu thực sự bảo nàng bỏ con chó con ấy đi, nàng vẫn thấy không nỡ. Đặc biệt là khi nàng vừa về đến nơi, chó con đã vẫy đuôi chạy tới háo hức chạy vòng quanh chân nàng, nó còn thè cái lưỡi hồng hồng, ngẩng đầu nhìn nàng đầy phấn khích .
Kỷ Vân Hành nhìn chó con một hồi lâu, thấy nó vẫn không hề giảm bớt chút nhiệt tình nào.
Nàng lại nghĩ, Học Học chắc chắn không phải chó dại.
Mùa hè tuy nóng bức, nhưng nơi Kỷ Vân Hành ở nằm gần một rừng cây rậm rạp, sau khi mở cửa sổ ở hai bên đông tây, gió mát liền thổi vào nhà. Sách trên bàn bị gió thổi khẽ lật ra, chuông gió treo trên khung cửa sổ cũng phát ra những tiếng vang trầm đục.
Kỷ Vân Hành ôm chó con vào phòng, đặt nó lên bàn chơi, chơi mệt rồi thì nàng đọc sách, viết chữ, đắm mình trong làn gió mát.
Chẳng mấy chốc trời đã xế chiều, Kỷ Vân Hành thắp đèn, nhớ lại lời Sở Tình nói ban sáng, định dạy dỗ cho chó con hiểu chuyện, trước tiên phải kiểm tra nó là giống đực hay cái.
Nhưng còn chưa kịp nhìn, chó con đã phát điên, nó sủa ầm lên với nàng, nhe nanh múa vuốt trông rất dữ tợn, hoàn toàn khác hẳn dáng vẻ ngoan ngoãn nhiệt tình buổi chiều.
Kỷ Vân Hành hoang mang không hiểu ra sao, nhưng rõ ràng đối thoại với một con chó sẽ không nhận được câu trả lời, dù nàng có hỏi gì, đáp lại nàng cũng chỉ là một loạt tiếng sủa không ngớt.
Nàng nghĩ, có lẽ chó con chơi với nàng lâu quá nên chán, vì vậy nàng đứng dậy mở cửa phòng, nói: “Có phải Học Học muốn ra sân chơi không?”
Thực ra Hứa Quân Hách đâu phải muốn chơi, hắn thực sự chỉ muốn giết người.
Hắn nhảy từ trên bàn xuống, cú ngã làm hắn lăn ra vài vòng, hắn bất chấp cơn đau trên người di chuyển bốn chân lao ra khỏi phòng ngủ của Kỷ Vân Hành chạy ào ra sân.
Trời chưa tối hẳn nhưng ánh chiều tà cũng đã tắt, cây dành dành trong sân bị gió thổi rì rào, tất cả vẫn giống hệt như cảnh tượng hôm qua khi Hứa Quân Hách đến đây.
Hắn nhìn tiểu viện hoang vắng cũ kỹ này, cả Kỷ Vân Hành đang chạy theo sau luôn miệng hỏi han, cuối cùng hắn đã hiểu ra, đây không phải là ác mộng.
Hứa Quân Hách hắn thật sự sẽ biến thành một con chó con sau khi mặt trời lặn.
Trước đó hắn chỉ cảm thấy Linh Châu có điều gì đó tà môn, nhưng không ngờ lại tà đến mức này, như thể trời sinh hắn và vùng đất này đã khắc nhau, một con người đang yên đang lành ra đó chỉ cần ngủ một giấc đã biến thành chó.
Hắn đứng cứng đờ trong sân, đắm chìm trong sự kinh ngạc khó có thể tưởng tượng nổi, Kỷ Vân Hành gọi mấy lần hắn cũng không phản ứng.
“Lại phát điên nữa rồi.” Kỷ Vân Hành lẩm bẩm, dứt khoát không thèm để ý đến chó con nữa, xoay người vào phòng bắt đầu mài mực vẽ tranh.
Trước đây Kỷ Vân Hành từng nhìn thấy có người bán tranh bên đường, một vài bức tranh mà nàng cho rằng không đẹp lại có thể bán được mấy trăm văn tiền, Kỷ Vân Hành sinh lòng hâm mộ. Thế là dạo gần đây, nàng đã bắt đầu học vẽ tranh.
Chỉ là không có ai dạy nàng, tất cả đều do tự nàng tìm tòi.
Kỷ Vân Hành đầu óc đơn giản, rất ít khi làm việc nửa vời. Hễ nàng đã làm gì đều nghiêm túc và đắm chìm vào công việc đó. Lần này vừa đặt bút xuống đã hai canh giờ trôi qua.
Đến khi nàng cảm thấy mắt mỏi, tay cũng đã rã rời, đã đến lúc cần nghỉ ngơi, thế là nàng đi ra phòng tắm đun nước để tắm gội.
Hứa Quân Hách đứng trong sân hứng gió thổi suốt hai canh giờ đã hoàn toàn bình tĩnh lại. Không còn điên cuồng vừa sủa vừa chạy lung tung làm Kỷ Vân Hành hoảng sợ như hôm qua nữa.
Hắn nhìn thấy nàng đẩy cửa bước ra, ánh mắt liền dõi theo, hắn đứng yên dưới gốc cây không nhúc nhích, đôi mắt chó con tròn xoe đầy cảnh giác và hung hãn.
Nhưng Kỷ Vân Hành lại không hiểu ngôn ngữ từ ánh mắt của loài chó, nàng cất tiếng gọi thân thiết: “Học Học.”
“Gâu!” Đáp lại nàng là một tiếng sủa đầy hung mãnh.
Kỷ Vân Hành chẳng để tâm, quay người ra sân sau lấy nước tắm rửa. Đợi đến lúc nàng quay lại, chó con vẫn đứng dưới gốc cây, thậm chí tư thế còn chẳng thay đổi, như thể đang phân cao thấp với ai đó.
“Học Học, ta đi ngủ đây.” Kỷ Vân Hành nói.
“Gâu gâu gâu gâu!” Hứa Quân Hách tức giận đáp trả. Khi hắn sủa, đầu chó con ngẩng lên cao, bốn chân nhỏ cố gắng cào xuống đất. Ngay cả khi giận dữ, dáng vẻ của hắn vẫn vô cùng đáng yêu.
Kỷ Vân Hành bật cười.
Nàng đứng ở ngưỡng cửa, mái tóc dài buông lơi tự nhiên trên vai, sau lưng nàng là ánh nến trong phòng chiếu rọi, bao phủ lấy cơ thể nàng trong một vầng sáng vàng nhạt.
Qua đôi mắt của chó con, Hứa Quân Hách có thể thấy rõ khuôn mặt nàng ngược chiều ánh sáng, đôi mắt đen như quả nho khẽ cong lên mỉm cười nhìn hắn.
Hứa Quân Hách chỉ thấy phiền muộn trào dâng, chẳng hiểu nàng đang cười ngốc cái gì, hắn liền quay người đi, không thèm để ý đến nàng nữa.
Kỷ Vân Hành cười một lát rồi quay vào phòng, tắt đèn đi ngủ.
Còn Hứa Quân Hách thì không hề buồn ngủ chút nào. Hắn nhớ lại trước đó ban ngày hắn sẽ trở lại hình người, có lẽ lần này cũng sẽ như vậy, thế là hắn đành ôm theo bực dọc đứng trong sân chờ trời sáng.
Hắn kiên nhẫn đứng trong sân cả đêm, đến khi thực sự mệt mỏi mới đành phải ngồi xuống trong tư thế của một con chó nhỏ, dáng vẻ kiêu ngạo ngẩng cao đầu, nhìn bầu trời từ khi sao đầy trời đến lúc bình minh dần hé lên ở đằng Đông.
Gần sáng, cơn buồn ngủ nặng nề ập đến, Hứa Quân Hách cố gắng giữ đôi mắt nặng trĩu mở ra thêm một chút, cuối cùng không chống nổi nữa, hắn đành nằm bẹp xuống đất ngủ thiếp đi, kết thúc một đêm giày vò đầy gian khổ.
Kỷ Vân Hành ngủ một giấc ngon lành, sáng sớm tỉnh dậy, nàng mở hai cánh cửa sổ, đem chăn gối ra sân sau phơi, sau đó mới múc nước để rửa mặt.
Nghe thấy tiếng động, chú chó Học Học vui mừng chạy tới quanh quẩn bên chân nàng, cái đuôi ve vẩy nhanh đến nỗi còn thấy được tàn ảnh.
Kỷ Vân Hành ra cửa lấy bữa sáng mà người hầu mang đến, chia một nửa cho Học Học rồi vào nhà lấy một quyển sách, ngồi trên ngưỡng cửa vừa ăn vừa đọc, chó con ngồi chồm hổm bên cạnh nàng.
Ánh sáng ban mai chiếu xuống bao phủ cả người và chó, tạo nên một bức tranh thật ấm áp.
Trong khi đó ở hành cung trên núi Cửu Linh, bầu không khí lại hoàn toàn khác hẳn.
Trong tẩm cung lộng lẫy vàng son, tiếng tụng kinh vẫn đang văng vẳng, hương khói nghi ngút bốc lên, làn khói mờ ảo tràn ngập cả tẩm cung, ngoài ra không có chút tạp âm nào khác.
Tất cả cung nhân đều cúi đầu, đứng sát bên tường bên cửa không dám nhúc nhích.
Ân Lang nhẹ nhàng bước qua từng lớp khói sương, đi đến phía trong cùng của tẩm cung, vén tấm màn vàng óng nhiều lớp, cúi đầu khẽ nói với người bên trong: “Điện hạ, các đại sư đã tụng kinh xong.”
Hứa Quân Hách mặc một bộ trường bào màu trắng tuyết, viền áo và tay áo được thêu hình tứ trảo kim long, mái tóc dài như mực buông lơi trên vai, từng sợi từng sợi tản ra.
Hắn đang cố nén sự khó chịu trong người, nhắm mắt giả vờ như đang ngủ.
Chuyện hắn biến thành chó, hắn chưa nói với bất kỳ ai. Nếu như nói ra ngoài, chắc chắn người ta sẽ nghĩ hắn bị điên mất.
Cho nên sau khi tỉnh dậy, Hứa Quân Hách chẳng nói lời nào đã lập tức sai người đến ngôi chùa nổi tiếng nhất ở Linh Châu để mời các hòa thượng đến tẩm cung để thắp hương tụng kinh Phật.
Giờ đây, trong tẩm cung đã bị khói nhang bao phủ, tràn ngập hương hỏa, hắn mới cảm thấy cơ thể mình dễ chịu hơn đôi chút.
“Mời trụ trì vào đây.” Hứa Quân Hách mở mắt, cất giọng trầm thấp ra lệnh.
Ân Lang ra ngoài truyền lệnh, chẳng mấy chốc đã dẫn theo một ông lão râu tóc bạc phơ vào trong. Ông lão khoác áo cà sa màu đỏ, trên cổ đeo một chuỗi tràng hạt, mặc dù đã ngoài sáu bảy mươi tuổi nhưng dáng vẻ vẫn rắn rỏi, bước đi vững vàng. Khi đứng trước mặt Hứa Quân Hách, lão hành lễ một cách điềm tĩnh, không kiêu ngạo không siểm nịnh: “Bái kiến Thái tôn Điện hạ.”
Hứa Quân Hách không vòng vo, nói thẳng vào vấn đề: “Từ khi đến Linh Châu, ta luôn cảm thấy cơ thể không khỏe, ác mộng triền miên. Có pháp khí nào giúp ta trừ tà khí trên người không?”
Nào ngờ sau khi vị trụ trì kia được cho miễn lễ, bèn ngẩng đầu nói: “Trên người Điện hạ chứa nhiều sát nghiệp, mùi máu tanh quá nồng, dù tương lai có trở thành bậc Đế vương cũng sẽ là bạo quân, làm hại đến lê dân bá tánh trong thiên hạ.”
“Láo xược!” Ân Lang sợ tới mức kinh hồn bạt vía, lập tức quát lớn: “Dám cả gan nói lời ngông cuồng trước mặt Điện hạ, ngươi muốn chết!”
Lời này quả thật không thể chấp nhận, huống hồ hiện tại Hứa Quân Hách chỉ mới là Trữ quân, Hoàng tổ phụ bên trên vẫn còn tại vị, việc nhắc đến chuyện kế vị chẳng khác gì rủa Hoàng Đế qua đời. Còn nói Hứa Quân Hách sẽ trở thành “bạo quân”, chẳng khác nào chỉ thẳng vào mũi hắn mà mắng. Đừng nói là trụ trì ở chùa chiền Linh Châu, ngay cả những đại thần quyền cao chức trọng trong triều đình nếu dám buông lời như vậy trước mặt hắn cũng sẽ phải trả giá bằng tính mạng.
Thế nhưng, lão trụ trì không hề tỏ ra sợ hãi, vẻ mặt vẫn bình thản mà nói nốt nửa câu còn lại: “Linh Châu là vùng đất lành được thần minh che chở, do đó mới tương khắc với hơi thở trên người Thái tôn Điện hạ. Ở lại nơi này lâu dài có lẽ có thể gột rửa nghiệp chướng của Điện hạ.”
Lão vừa dứt lời, trong tẩm cung lặng ngắt như tờ.
Tiếng quát lớn của Ân Lang khiến các cung nhân đều khiếp đảm vội vàng quỳ xuống cúi đầu thấp đến mức gần như chạm đất, hơi thở cũng trở nên nhẹ nhàng nhất có thể, chỉ sợ lão trụ trì này chọc giận Hoàng thái tôn thì sẽ liên lụy đến họ cũng phải chịu tội cùng.
Từng giây phút yên tĩnh trôi qua đều trở thành một loại tra tấn.
Hứa Quân Hách nghe xong câu nói này, qua một lúc sau mới từ từ mở mắt ra liếc sang nhìn lão trụ trì.
Hắn vốn là người không tin vào quỷ thần. Trước khi đến Linh Châu, hắn hoàn toàn không tin gì vào thần phật, chỉ vì biến cố biến thành chó con mới phải mời đám hòa thượng này đến tụng kinh trong tẩm cung.
Lão trụ trì này trông đã rất già, mà người già thì thường ngoan cố, trên đầu lão không còn sợi tóc nào, nhưng gan lại to bằng trời.
Hứa Quân Hách nở một nụ cười đầy mỉa mai: “Ngươi kính trọng thần minh Linh Châu như vậy, vậy ngươi đoán xem bọn họ có cứu ngươi một mạng không?”
Trụ trì cúi đầu, bình tĩnh đáp: “Sinh tử đều do trời định, mạng của lão nạp như cát bụi, không đáng để thần minh quan tâm.”
Ý cười trong mắt Hứa Quân Hách dần trở nên lạnh lẽo, nhưng cũng không mang theo sát khí.
Tuy hắn đã từng giết không ít người, nhưng hắn cũng không phải loại người vì vài câu khó nghe của người khác ngay lập tức đại khai sát giới. Điều khiến hắn hài lòng chính là đám cung nhân quỳ rạp dưới đất, run rẩy đến mức chẳng dám ngẩng đầu.
“Kính” thì không đủ để khiến người khác trung thành và phục tùng, chỉ có “sợ” mới có thể làm điều đó.
Dù không có ý định giết người, nhưng trong lòng Hứa Quân Hách vẫn rất khó chịu, thiếu điều chỉ muốn đánh cho lão hòa thượng này một trận, nhưng nhìn bộ dạng già nua của lão, e rằng chỉ cần hai quyền cũng đủ khiến lão không gượng dậy nổi nữa.
Không thể động thủ, hắn đành mắng: “Ngay cả đầu cũng chưa cạo sạch đã dám ra ngoài lừa gạt, ta thấy lão lừa trọc ngươi chán sống rồi thì phải! Nếu không phải sợ làm Hoàng gia gia mất hứng du ngoạn, ta đã sớm đánh gãy hai chân của ngươi rồi cho người khiêng ra ngoài, xem ngươi cung phụng thần linh gì đó thì có thể nối lại chân hay không!”
Ân Lang nghe thấy lời này mới có thể thở phào nhẹ nhõm.
Từ nhỏ y đã đi theo bên cạnh vị tiểu bá vương này, đã quá quen thuộc với tính cách của Hứa Quân Hách. Mặc dù lời nói không dễ nghe, nhưng điều đó có nghĩa là đám hòa thượng này sẽ được trở về an toàn.
Mặc dù lão hòa thượng này có vẻ như cố tình tự tìm đường chết, nhưng Ân Lang vẫn lo sợ Hứa Quân Hách thật sự ra tay với lão, đến lúc đó sẽ mang tiếng là kẻ tàn bạo, phá hỏng thanh danh của Điện hạ.
Cho dù danh tiếng hiện tại của Hứa Quân Hách cũng không mấy tốt đẹp.
Trụ trì vẫn giữ vẻ mặt điềm nhiên như không hề dao động trước vinh nhục, lão lấy từ trong tay áo ra một chuỗi tràng hạt màu nâu, nói: “Chuỗi phật châu này được dâng cúng trong chùa suốt nhiều năm đã thấm nhuần hương hỏa. Hôm nay lão nạp dâng tặng cho Điện hạ, có lẽ sẽ có thể giúp Điện hạ ổn định tâm thần.”
Ân Lang là một thái giám có đôi mắt cực kỳ tinh tường, y chỉ nhìn qua một lần đã nhận ra chuỗi tràng hạt mà lão hòa thượng đưa ra là bảo vật.
Từ nhỏ y đã đi theo vị Hoàng thái tôn được sủng ái lên trời này, đã từng thấy qua vô số bảo vật trong cung, nhưng khi nhìn chuỗi phật châu, trong lòng y cũng ngạc nhiên đến thán phục.
Hứa Quân Hách không nói gì, chỉ hơi nghiêng đầu qua một bên. Đó chỉ là một động tác cực kỳ nhỏ, nhưng Ân Lang đã lập tức hiểu ý, y tiến lên nhận lấy chuỗi phật châu, nhẹ nhàng đặt lên trên bàn cạnh bên tay Hứa Quân Hách.
“Vất vả cho trụ trì rồi, nô tài sẽ tiễn ngài ra ngoài.” So với giọng nói gắt gỏng trước đó, giờ đây Ân Lang đã lấy lại vẻ niềm nở, tươi cười tiễn lão hòa thượng ra ngoài.
Khi y quay lại, Hứa Quân Hách vẫn đang ngồi thẫn thờ nhìn chuỗi phật châu trên bàn. Ân Lang bước tới, cầm chuỗi tràng hạt lên kiểm tra cẩn thận, ngửi thử một lần rồi mới nói: “Điện hạ, lão trụ trì này ra tay thật hào phóng. Chuỗi phật châu này được làm từ gỗ kỳ nam, lại được dâng cúng trong nhiều năm, ngâm mình trong khói hương, sợ rằng thiên hạ khó tìm được chuỗi thứ hai có thể so sánh được.”
Hứa Quân Hách đưa tay nhận lấy, chuỗi phật châu gồm mười tám hạt, mỗi hạt đều tròn nhẵn và sáng bóng, vừa vặn đeo trên cổ tay hắn.
Hắn thầm nghĩ, hương khói cũng đã xông, kinh phật cũng đã tụng, pháp khí cũng đã có, lần này chắc hắn không thể nào biến thành chó con nữa đâu nhỉ?
Nhưng rốt cuộc có tác dụng hay không, vẫn phải chờ đến lúc hoàng hôn mới biết được.
Mùa hạ ngày dài đêm ngắn, vầng mặt trời treo trên không trung rất lâu mới chậm rãi lặn về phía Tây.
Kỷ Vân Hành đã dành cả buổi chiều trong phòng để làm đồ chơi cho chó con.
Trước đây nàng từng làm một món đồ chơi cho mình, tuy rằng đã bị một đứa bé lấy mất vài ngày, chơi đến mức nó bẩn thỉu không chịu nổi. Dù nàng đã giặt rất nhiều lần, nhưng càng giặt càng bẩn khiến nó trở nên vừa xấu vừa cứng sau khi phơi khô. Thế là Kỷ Vân Hành vẫn quyết định làm một cái khác cho Học Học.
Gọi là đồ chơi, nhưng thực ra chỉ là vài mảnh vải được khâu lại với nhau, bên trong nhồi đất mềm và sợi bông, tạo thành một quả bóng tròn trĩnh. Trên đó, nàng khâu vài dải lụa mảnh, ở đầu mỗi dải treo hai chiếc chuông nhỏ.
Chuông là đồ cũ không kêu quá vang, nhưng khi rơi xuống đất vẫn phát ra âm thanh không gây ồn ào.
Kỷ Vân Hành rất hài lòng với quả bóng mới làm, nàng cầm trên tay chơi mãi, yêu thích không nỡ buông. Nhưng đã quyết định làm cho chó con, nàng sẽ không giữ lại cho mình. Kỷ Vân Hành đứng dậy, cầm quả bóng đi ra sân tìm nó.
Thế nhưng không hiểu vì sao, chó con ngày thường vốn chỉ cần gọi một tiếng là có mặt, hôm nay dù nàng gọi bao nhiêu lần cũng không thấy bóng dáng. Kỷ Vân Hành lượn là khắp cả sân trước lẫn sân sau, lắc quả bóng trên tay và gọi to liên tục hàng chục lần, lúc này nàng mới nhận ra rằng chó con không còn ở trong sân.
Ban đầu, nàng nghĩ rằng có lẽ chó con đã lẻn đi từ cửa hông sân sau để ra ngoài chơi, nhưng khi bước đến cổng chính của sân trước, nàng mới phát hiện ra dưới cửa cổng trước đã bị đào một cái lỗ.
Cánh cổng này đã cũ kỹ, dần mục nát theo thời gian, phần dưới bị mối mọt ăn lởm chởm. Chỉ cần một cái đạp nhẹ là gỗ cũng vỡ ra. Có lẽ vì chơi trong sân không vui nên chó con đã cào phá cổng rồi chui ra ngoài.
Nếu nó chỉ ra ngoài chơi, Kỷ Vân Hành sẽ không lo lắng. Nhưng khi chó con chạy ra ngoài theo đường cổng trước, nó sẽ vào khu vực chính của Kỷ phủ. Nếu như để đám hạ nhân trong phủ nhìn thấy sẽ bắt nó lại đánh một trận rồi mang ra ngoài vứt đi, đến lúc đó nàng sẽ không biết tìm nó ở đâu.
Hơn nữa, tính nết của chó con không tốt, nếu cắn người sẽ có nguy cơ bị đánh chết.
Nghĩ đến đây, Kỷ Vân Hành bất chấp tất cả, vội vàng mở cổng ra ngoài.
Nhiều năm nay nàng sống trong tiểu viện, nếu không có lời triệu gọi của chủ mẫu sẽ không được phép ra khỏi đây. Những năm trước, cánh cổng của tiểu viện luôn được khóa kín, chỉ khi hạ nhân đến đưa cơm hoặc dọn rác mới tạm thời mở khóa. Về sau, thấy Kỷ Vân Hành tuân thủ quy củ, người ta mới không khóa cổng nữa.
Đây là lần đầu tiên Kỷ Vân Hành phá vỡ quy củ, tự ý mở cửa bước ra khỏi tiểu viện, vừa đi vừa gọi tên chó con.
Không may thay, đi chưa được bao xa, nàng đã đụng phải mấy tỳ nữ đi từ hướng ngược lại.
Tỳ nữ dẫn đầu là Thu Quyên – nha hoàn bên cạnh chủ mẫu Kỷ gia. Ở trong phủ, địa vị của nàng ta có thể nói là hạng nhất nhì trong đám hạ nhân. Khi nhìn thấy Kỷ Vân Hành tự ý bước ra ngoài, sắc mặt Thu Quyên lập tức thay đổi, giọng nói đầy vẻ mỉa mai, quay đầu trách mắng nha hoàn theo sau: “Chà chà, đại cô nương sao lại ra ngoài rồi? Đám nô tỳ các ngươi làm việc thế nào vậy? Các ngươi lười biếng đúng không? Nếu để lão gia biết được, chắc chắn không có kết cục hay ho đâu!”
Kỷ Vân Hành lần đầu tiên ra khỏi cổng trước đã bị bắt gặp, nàng sợ đến mức đứng sững lại, khuôn mặt trắng ngần đỏ bừng lên vì xấu hổ.
Nàng nhận ra đây là tỳ nữ luôn hầu hạ bên cạnh chủ mẫu, sợ nàng ta quay về mách tội sẽ khiến mình bị phạt.
“Đại cô nương, phu nhân bảo bọn ta đến đo kích thước để may y phục mới cho cô nương.” Thu Quyên tiến lên kéo lấy cánh tay Kỷ Vân Hành, cười híp mắt nói: “Chắc là sắp có chuyện mừng trọng đại đến với cô nương rồi đó.”
Kỷ Vân Hành bị kéo lùi lại hai bước, nàng cố sức giằng ra: “Ta phải đi tìm chó nhỏ của ta.”
“Chó nhỏ chó lớn gì chứ, trong Kỷ phủ làm gì có loại súc sinh này?” Thu Quyên quay đầu lại nhìn nàng, nụ cười trên gương mặt đầy nếp nhăn không mang chút thân thiện nào, trái lại còn trừng mắt như đang cảnh cáo nàng: “Lão gia đã hạ lệnh, trừ phi có truyền gọi nếu không cô nương không được ra khỏi Tĩnh Tư Viện. Mẫu thân của cô nương khi còn sống luôn tuân thủ quy tắc này chưa từng mắc lỗi gì. Sao Đại cô nương lại không học được chút quy củ nào thế? Hôm nay Đại cô nương tự ý chạy ra ngoài là đã phạm vào quy củ, tốt nhất nên vào trong trước khi có ai khác phát hiện. Bọn ta đến để hoàn thành nhiệm vụ, thời gian có hạn, mong Đại cô nương hiểu cho.”
Những tỳ nữ khác cũng đồng thanh hùa theo, ai nấy đều cười cợt bằng giọng điệu sắc bén đến khắc nghiệt.
Mỗi một câu nói không chút cung kính ấy giống như những lưỡi dao cùn cứa vào trái tim của Kỷ Vân Hành.
Tâm trạng nàng lập tức chùng xuống, cảm giác ngột ngạt và đau xót lan đến từng ngóc ngách trong lòng nàng.
Không biết đau lòng là vì nghe người ta khinh thường gọi chó con yêu quý của nàng là súc sinh, hay vì những lời ấy khiến nàng nhớ đến người mẹ bị giam cầm suốt nửa đời trong tiểu viện, cuối cùng héo hon mà lìa đời.
Kỷ Vân Hành không phản kháng nữa, để mặc Thu Quyên kéo trở lại tiểu viện cho đám tỳ nữ đo đạc kích thước khắp các nơi trên người nàng.
Quả bóng trên tay nàng bị Thu Quyên giật lấy, tùy ý vứt lăn lóc sang một bên lăn vài vòng rồi bị phủ đầy bụi bẩn.
Món đồ chơi mới mà nàng đã bỏ cả buổi chiều để khâu vá giờ đã lấm lem.
Kỷ Vân Hành quay đầu nhìn quả bóng trên đất, mím môi không nói gì.
Sau khi đo xong số đo y phục, Thu Quyên dẫn đám tỳ nữ nhanh chóng rời đi, như thể tiểu viện này là nơi dơ bẩn, ở thêm một giây phút sẽ bị nhiễm xui xẻo.
Người đi rồi, cửa lại không đóng. Kỷ Vân Hành uể oải bước đến chỗ quả bóng nhặt nó lên, đôi tay trắng nõn khẽ phủi bụi trên đó rồi đi đến ngồi xuống ngưỡng cửa, im lặng ngắm nhìn món đồ chơi trong tay.
Chính vào lúc ấy, Hứa Quân Hách biến thành chó con.
Nhìn vào bức tường cao ngất trước mặt và những bụi cỏ dại cao hơn cả thân mình, hắn biết rằng tất cả những nghi lễ hương khói và chuỗi phật châu kia đều không có tác dụng gì.
Nhưng đây đã là đêm thứ ba, Hứa Quân Hách thực sự đã sủa đến mệt rồi.
Hắn đứng giữa đám cỏ, đang suy tính xem sau khi biến trở lại sẽ đốt ngôi chùa lừa đảo kia trước hay bắt lão lừa trọc kia đánh một trận trước, còn chưa kịp làm gì thì bất ngờ nhìn thấy mấy tỳ nữ vội vã lướt nhanh qua trước mặt hắn.
“Thật xui xẻo chết được, sao lại nhận phải công việc này chứ.”
“Nghe nói ai đến chỗ này cũng gặp chuyện không hay. Trước kia, có mấy người hầu mang cơm đến đây sau khi trở về đều đổ bệnh, phải thay đổi mấy người liên tục rồi đó.”
“Chúng ta đi nhanh thôi, kẻo bị thứ không sạch sẽ kia bám theo.”
Hứa Quân Hách nhìn thấy mấy người kia rời đi vội vã, bèn dùng bốn chân ngắn cũn chạy về phía trước một đoạn. Vừa quay đầu lại, hắn nhìn thấy cánh cổng mở toang.
Dù trời đã dần tối, Hứa Quân Hách vẫn có thể nhìn thấy cô nương đang ngồi bên khung cửa kia.
Mặt trời đã lặn, trong tiểu viện không còn ánh sáng, khung cảnh chìm trong bóng tối mờ mịt.
Gió thổi qua cây dành dành, những tán lá um tùm phát ra tiếng xào xạc, hương hoa thơm mát tỏa khắp ngõ ngách trong sân.
Kỷ Vân Hành ngồi trên ngưỡng cửa, mái tóc dài buông xuống chạm đất, vài lọn tóc trước trán khẽ bay trong gió.
Nàng cúi đầu, dáng vẻ tiu nghỉu thấy rõ.
Hứa Quân Hách nhìn thấy nàng, định cất tiếng gọi nhưng lại chỉ phát ra một tiếng “Gâu!” rõ to.
Kỷ Vân Hành nghe tiếng ngẩng đầu lên, trong nháy mắt đã chạm phải ánh mắt của Hứa Quân Hách.
Xuyên qua cơn gió đêm ồn ào, Hứa Quân Hách bắt gặp đôi mắt đỏ hoe của Kỷ Vân Hành, trong con ngươi đen nhánh óng ánh ngấn lệ càng trở nên trong sáng và rực rỡ hơn.
Những giọt nước nóng hổi từ đôi mắt xinh đẹp ấy lăn dài xuống má.
Tĩnh lặng, nhưng không yên bình.

Bình luận về bài viết này