Kỷ Viễn vẫn nhớ rõ lời dặn dò của cha mình khi mang khối ngọc này về.
“Đây là một khối bảo ngọc, nhưng lai lịch có phần không tầm thường. Con phải cất kỹ, tuyệt đối không để người ngoài phát hiện ra.”
Khối ngọc này rốt cuộc là loại ngọc gì, từ đâu mà đến, Kỷ Viễn hoàn toàn không biết.
Hắn ta chỉ biết rằng đây là một món bảo vật, nhưng quý giá đến mức nào thì lại không rõ, vì chưa bao giờ mang ra để người ngoài giám định, còn đám gia nhân trong nhà cũng không đủ kiến thức để phân biệt.
Bởi vì Kỷ Dục nghiêm túc dặn đi dặn lại, Kỷ Viễn cũng lo sợ bị người khác phát hiện ra, thế nên hắn ta luôn cất giấu kỹ lưỡng, thậm chí thỉnh thoảng còn đổi chỗ giấu, ngay cả người hầu thân cận cũng đề phòng.
Nhưng khoảng thời gian trước, lúc Kỷ Doanh Doanh gây náo loạn ở tiểu viện của Kỷ Vân Hành, muội muội có cầm khối ngọc này lắc lư trước mặt hắn ta.
Vài ngày sau đó, không biết Kỷ Viễn đã nghe được từ đâu rằng ngọc có linh tính, ngọc càng quý giá thì linh tính càng mạnh.
Đúng vào thời điểm đó, hắn ta gặp nhiều chuyện không thuận lợi, còn bị người ta khinh thường. Khó khăn lắm mới được Lý công tử hứa dẫn đến dự tiệc tẩy trần của Hoàng thái tôn, nhưng cuối cùng hắn ta lại bị coi khinh rồi bỏ rơi mất.
Trong lòng đầy phẫn uất, Kỷ Viễn càng nghĩ càng động lòng. Hắn ta bèn lôi khối ngọc bích ấy ra đeo lên người rồi chạy một mạch đến ngôi chùa nổi tiếng ở Linh Châu, dập đầu trước tượng Bồ Tát, cầu mong mình có thể đổi vận.
Nào ngờ điều ước thật sự linh nghiệm. Không bao lâu sau đó, ở lễ hội thuyền hoa Hoàng thái tôn đang đi đã dừng lại trước mặt hắn ta, hỏi hắn ta về chiếc dây thắt đeo bên hông từ đâu mà có.
Kể từ đó, vận may của hắn ta lên như diều gặp gió, Kỷ gia cũng nhờ thế mà được thơm lây.
Ngặt nỗi ngày nào cũng đeo khối ngọc này trên cổ, mà trang phục mùa hè lại mỏng, hắn ta sợ bị người khác phát hiện ra nên đã tháo xuống cất vào rương để giấu đi.
Ai ngờ sự việc lại trùng hợp đến vậy. Khối ngọc vừa cất chưa được mấy ngày, Hoàng thái tôn đã tỏ ra lạnh nhạt với hắn ta, Kỷ gia cũng bị rơi vào cảnh thảm hại rồi xuống dốc không phanh. Nghĩ đi nghĩ lại thấy có điều không ổn, Kỷ Viễn lại lấy ngọc ra đeo lên cổ, trong lòng còn thầm thề rằng từ nay về sau sẽ không bao giờ tháo ra nữa.
Thành ra mới có chuyện Kỷ Viễn trong cơn say rượu liều lĩnh lấy ngọc ra làm vật thế chấp.
Giờ đây, khi nghe thấy lời Hứa Quân Hách nói, Kỷ Viễn hoảng loạn đến mức ngã quỵ xuống đất, run rẩy không thể đứng vững. Cơn say rượu đã hoàn toàn biến mất, vừa ngẩng đầu lên, hắn ta nhìn thấy đôi mắt của Hứa Quân Hách đang mỉm cười nhìn mình.
Đến lúc này, Kỷ Viễn mới thật sự hiểu ra — Kỷ gia đã xong đời rồi!
***
Dưới tầng một của đại sảnh, cánh hoa rơi rải rác khắp nơi, tiếng nhạc cụ càng lúc càng vang dội. Mọi người rời khỏi chỗ ngồi di chuyển đến nhảy múa cùng với các vũ cơ trên đài, không khí vô cùng vui vẻ.
Kỷ Vân Hành tay trái cầm cành hoa thêu vàng mà Liễu Kim Ngôn ném cho nàng, tay phải cầm một dải lụa đỏ lướt đi giữa đám đông.
Nàng bước đi rất dè dặt, sợ rằng những người đang nhảy múa xung quanh sẽ va phải mình, cũng lo làm hỏng bông hoa trong tay.
Thực ra Tô Y đã đề nghị nàng đặt hoa vào giỏ, nhưng Kỷ Vân Hành thích giữ nó nên muốn cầm mãi trong tay.
Đi qua đài cao hình trụ tròn ở giữa, bước thêm trăm bước nữa, nàng đã đứng dưới một gốc cây lớn.
Cái cây này không cao lắm nhưng có cành lá xum xuê, nó mọc sát bên tòa lâu, chia ra hàng trăm nhánh, lá cây xanh mướt đung đưa xào xạc trong làn gió.
Trên các cành cây đã treo đầy những dải lụa đỏ, xen lẫn vào đám lá xanh, dày đặc đến mức không còn chỗ trống.
Những dải lụa đỏ này phần lớn là do các nam nữ trẻ tuổi đến treo, cầu mong tìm được duyên lành.
Dù không phải là cây linh thiêng gì, nhưng các nam thanh nữ tú đến đây treo lụa cũng không phải vì muốn cầu được ước thấy, phần lớn chỉ để cầu một điềm lành mà thôi. Tô Y đưa cho nàng một dải lụa đỏ, bảo nàng cũng treo thử cho vui.
Kỷ Vân Hành đến dưới gốc cây, chọn một vị trí trống, nàng nhón chân kéo một nhánh nhỏ xuống rồi buộc dải lụa đỏ lên đó.
Sau khi nàng buông tay, cành cây bật lên, dải lụa đỏ đung đưa giữa không trung.
Kỷ Vân Hành ngẩng đầu lên, chần chừ không biết có nên chắp tay lại cầu nguyện một điều ước giống như những người khác hay không. Bất chợt, nàng nghe thấy có người gọi tên mình từ phía sau.
“Kỷ Vân Hành.”
Nàng ngạc nhiên xoay người lại, tầm nhìn còn chưa rõ ràng thì trước mắt đã tối sầm, có thứ gì đó phủ lên mặt nàng.
Sau đó, nàng thông qua hai lỗ nhỏ nhìn thấy Hứa Quân Hách đang đứng trước mặt, nhướn mày hỏi nàng: “Cô làm gì ở đây?”
Ánh nắng rực rỡ như dát vàng tràn xuống, gió mùa hè oi bức, bóng cây lốm đốm lay động trên người hắn. Hàng lông mày tuấn tú của hắn bị những sợi tóc mềm mượt phất qua, dù mặc trang phục bình thường nhưng vẫn nổi bật vô cùng.
Kỷ Vân Hành đưa tay lên gỡ thứ trên mặt mình xuống, mỉm cười rạng rỡ: “Lương Học, ta đã biết là ngài mà!”
Nói rồi, nàng cúi xuống nhìn món đồ trong tay, đó chính là chiếc mặt nạ mà người trên tầng hai đã đeo trước đó.
Kỷ Vân Hành bĩu môi, giọng điệu cất cao mang ý chất vấn: “Tại sao trước đó ngài lại giả vờ không quen biết ta?”
Hứa Quân Hách liền nói: “Ở xa quá, ta không thấy rõ không được sao?”
“Ngài mù từ lúc nào vậy?” Kỷ Vân Hành nghiêm túc hỏi thăm, nhíu mày trông rất lo lắng .
Hứa Quân Hách bèn véo má nàng: “Lá gan của cô lớn nhỉ?”
Kỷ Vân Hành giật mình la lên, lấy tay ôm mặt lùi về phía sau một bước. Thế nhưng động tác né tránh này vô cùng hời hợt, chẳng mấy chốc nàng lại tiến lên hai bước, ghé sát lại gần Hứa Quân Hách, tò mò hỏi:
“Sao ngài cũng ở đây?”
“Làm sao?” Hứa Quân Hách ngang ngược hỏi lại: “Cô đến được, ta không đến được sao?”
“Ta có nói không được đâu.” Kỷ Vân Hành đi vòng từ phía bên trái sang bên phải hắn, hỏi tiếp: “Ngài đến đây một mình à?”
Hứa Quân Hách không trả lời câu hỏi của nàng, mà hất cằm chỉ về phía dải lụa đỏ Kỷ Vân Hành vừa buộc lên cây khi nãy: “Dây lụa đỏ này là để làm gì?”
“Nghe người ta nói là để cầu nhân duyên.” Kỷ Vân Hành đáp.
Hứa Quân Hách nghiêm túc suy nghĩ một lúc: “Cô cầu nhân duyên với ai? Tên béo phì họ Triệu tự tay đánh vợ mình chết tươi, kẻ họ Trương con dòng thứ bị què chân, hay gã ngốc họ Vương lớn hơn cô hai mươi tuổi?”
Giọng điệu này nghe sao cũng thấy không bình thường, Kỷ Vân Hành nghiêm túc ngẫm lại một phen rồi ngạc nhiên hỏi lại: “Sao ngài biết được?”
Ba người này đều là những ứng cử viên mà trước đó Vương Huệ đã gọi nàng ra tiền viện, nói là định lựa chọn làm phu quân cho nàng.
“Đương nhiên là ta thần thông quảng đại, dò hỏi được chứ sao.” Hứa Quân Hách cúi đầu nhìn nàng, hàng lông mày khẽ nhướn lên, vẻ kiêu ngạo trên mặt không hề che giấu: “Cô chỉ cần nói là đúng hay không đúng.”
“Không đúng, ta đâu có cầu nhân duyên với bọn họ.” Kỷ Vân Hành vừa nói vừa đùa nghịch bông hoa thêu vàng trong tay, giọng điệu nhẹ nhàng: “Dì Tô nói sẽ dẫn ta đến gặp đích tử nhà Đỗ viên ngoại, nghe nói hắn văn nhã lịch sự, là một sự lựa chọn phù hợp để làm phu quân.”
Hứa Quân Hách thản nhiên nói: “Gầy đét chỉ còn da bọc xương, hệt như một con khỉ núi thành tinh, cô cứ đi gặp đi, tốt nhất lúc đi hãy mang theo vài quả chuối.”
Thực ra hắn không hề có ý nói lời chua ngoa, chỉ là lần trước khi nhìn thấy con trai của Đỗ viên ngoại, ấn tượng đầu tiên của hắn chính là như vậy, hắn chỉ nói thật mà thôi.
Kỷ Vân Hành lặng lẽ ghi nhớ, còn tỏ vẻ cảm kích: “Cảm ơn Lương Học đã nhắc nhở, ta sẽ chuẩn bị nhiều chuối hơn.”
“Ừm, nói chung cô cứ mang theo những thứ khỉ thích ăn, hắn mà nhận được nhất định sẽ vô cùng hài lòng, sẽ khen ngợi cô không ngớt miệng cho coi.” Hứa Quân Hách thấy nàng tưởng thật, bèn nghiêm chỉnh bịa đặt thêm.
Không chờ nàng phản ứng kịp, hắn đã đổi chủ đề: “Ta đến cùng với đệ đệ của cô.”
Ban đầu Kỷ Vân Hành chưa kịp hiểu, sau đó mới nhận ra hắn đang trả lời câu hỏi trước đó của mình, nàng mở to mắt ngạc nhiên thốt lên: “Kỷ Viễn?”
“Ừm.” Hứa Quân Hách đáp lại.
Kỷ Vân Hành lập tức hoảng hốt, rụt cổ quay đầu nhìn xung quanh, dáng vẻ giống như sẵn sàng bỏ chạy bất cứ lúc nào, trông vô cùng cảnh giác.
“Hắn đang ở trên lầu, chưa thấy cô đâu.” Hứa Quân Hách nói: “Ta xuống đây báo cho cô biết đó, mau rời đi nhanh, đừng để hắn bắt gặp rồi về mách với cha cô.”
Kỷ Vân Hành gật đầu lia lịa như giã tỏi, còn thuận tay đeo chiếc mặt nạ của Hứa Quân Hách lên mặt mình, vội vàng chào tạm biệt hắn rồi chạy vội đi.
Hứa Quân Hách đứng nghiêng người nhìn theo bóng lưng vội vã của nàng, nhìn nàng luống cuống như một con thú con bị hoảng sợ đang vụng về luồn lách qua đám đông, hắn bất giác cong môi mỉm cười.
Kỷ Vân Hành chạy một mạch về chỗ ngồi ban nãy, Tô Y cũng không biết mới từ đâu trở lại, sắc mặt có vẻ căng thẳng.
Bà không nói thêm lời nào đã kéo tay Kỷ Vân Hành đi, tay kia cầm lấy giỏ hoa dẫn nàng rời khỏi.
“Dì Tô, đã xảy ra chuyện gì vậy ạ?” Kỷ Vân Hành kéo mặt nạ xuống một chút, để lộ đôi mắt đen láy sáng ngời ngơ ngác nhìn Tô Y.
Tô Y nói: “Vừa nãy ta nghe người ta nói, trên tầng hai đã xảy ra chuyện, có người vì tranh giành vũ cơ Du Dương mà đánh nhau, náo loạn đến mức đầu rơi máu chảy.”
Kỷ Vân Hành tò mò hỏi: “Là ai vậy?”
“Ta không biết là ai, nhưng nghe nói Hoàng thái tôn cũng có mặt ở đó, ngài tức giận đến mức lật bàn, muốn bắt hết những kẻ gây rối lại.” Tô Y lo lắng nói: “Chúng ta mau đi thôi, đừng để vô tình bị liên lụy vào.”
Bà vừa dứt lời, bỗng nhiên phía trước có một đoàn thị vệ cao lớn bước nhanh tới, hàng ngũ ngay ngắn chỉnh tề, bên hông còn đeo trường đao, khí thế oai phong lẫm liệt.
Những thị vệ thế này không có mặt ở Linh Châu, đây là Ngự tiền thị vệ cận kề bên Hoàng Đế, ở nơi đây chỉ có Hoàng thượng và Hoàng thái tôn mới có quyền tùy ý điều động.
Tô Y nhanh nhẹn kéo Kỷ Vân Hành sang bên cạnh vài bước, nhường đường cho họ đi qua.
Những thị vệ kia nhanh chóng đi lên lầu, tiếng bước chân và khí thế áp đảo khiến cho mọi người xung quanh đều hiếu kỳ nhìn lại.
Ánh mắt Kỷ Vân Hành dõi theo một lúc, chẳng mấy chốc đã bị Tô Y kéo ra khỏi Vạn Hoa Lâu, rời khỏi chốn thị phi.
Dù rời đi trong vội vàng chưa kịp chào từ biệt Liễu Kim Ngôn, nhưng tâm trạng của Kỷ Vân Hành cũng không hề bị ảnh hưởng. Lúc ngồi trong xe ngựa, nàng vẫn không chịu buông tay khỏi giỏ hoa.
Trong giỏ còn lại một ít cánh hoa, đặt cùng với túi thơm và mấy món điểm tâm mà Liễu Kim Ngôn đã đưa cho nàng, còn có một đôi hoa tai ngọc trai, đó là quà sinh nhật mà Liễu Kim Ngôn đã tặng nàng.
Nàng ấy nói rằng vì thời gian gấp gáp nên chưa kịp chuẩn bị thứ khác, chỉ có một đôi hoa tai này để làm quà.
Nhưng đối với Kỷ Vân Hành, nhận được quà đã đủ để nàng vui vẻ, nàng không quan tâm món quà là gì.
Xe ngựa đi về phía Bắc thành, đường phố dần dần trở nên rộng rãi hơn.
Bắc thành là nơi phồn hoa nhất Linh Châu, đa số các quan lớn hay gia tộc giàu có đều ở đây, vì vậy đường sá nơi đây cũng được xây dựng rộng rãi hơn các khu vực khác, riêng con đường chính đã có đến hai hàng xe ngựa chạy song song.
Hai bên đường không có những sạp hàng chen chúc bán rong, cách một khoảng sẽ có ba bốn thị vệ đi tuần tra, đảm bảo an ninh trật tự trên đường phố.
Kỷ Vân Hành gác cằm lên cửa sổ, cảm nhận từng đợt xóc nảy khi xe di chuyển khiến đầu nàng lắc lư qua lại, nàng cảm thấy vô cùng thú vị.
“Dì ơi, sao chúng ta lại đến Bắc thành?”
Tô Y tỏ ra bí ẩn: “Chờ một lát nữa con sẽ biết thôi.”
Kỷ Vân Hành không hỏi thêm mà yên lặng chờ đợi. Xe ngựa chạy thêm hai khắc nữa mới từ từ dừng lại.
Kỷ Vân Hành nâng làn váy bước xuống xe, chỉ thấy trước mặt nàng là một tòa nhà.
Hai cánh cửa như vừa mới được sơn màu đỏ son, trông sáng bóng và mới mẻ, vòng đồng trên cửa phản chiếu ánh nắng. Trước cửa không có bậc thang, hai bên đặt hai cái trống đá, tường đá trắng kéo dài về hai phía.
Tiếng bước chân dừng lại bên cạnh Kỷ Vân Hành, nàng quay đầu hỏi Tô Y: “Dì Tô, đây là nhà mới của dì sao?”
“Là quà sinh nhật ta dành cho con.” Tô Y mỉm cười nói.
Kỷ Vân Hành cũng không thể ngờ được Tô Y lại tặng cho nàng một tòa nhà.
Nhà ở khu Bắc thành đắt đỏ đến mức chẳng thể tưởng tượng nổi, nơi đây được coi là tấc đất tấc vàng, người thường có tiền cũng chưa chắc mua được.
Suy cho cùng Tô Y cũng đã làm bà chủ hơn hai mươi năm nên cũng có khá nhiều mối quan hệ ở Linh Châu, hơn nữa bà gần như đã tiêu tán tài sản của nửa đời người mới mua được một căn nhà thế này.
“Ta đã để ý đến mảnh đất này từ lâu rồi, ban đầu định tặng con vào năm con mười lăm, nhưng tiếc là năm đó ta vẫn chưa đủ khả năng mua nhà ở Bắc thành, muộn ba năm mới tặng được cho con.”
Kỷ Vân Hành ngây ngốc nhìn căn nhà trước mặt, mãi mà không phản ứng lại.
Nàng không biết để mua một tòa nhà như vậy phải tốn bao nhiêu tiền, nhưng chắc chắn sẽ là con số cao ngất ngưởng, suy nghĩ đầu tiên nhảy ra trong đầu là: Nàng không muốn dì Tô phải tốn kém.
Nhưng những năm qua, những thứ Tô Y tặng nàng, bà chưa bao giờ cho phép nàng từ chối.
Bà đã cho Kỷ Vân Hành rất nhiều, nhưng vẫn cảm thấy chưa đủ.
“Hữu Hữu, con xem kìa.” Tô Y ôm vai nàng, dẫn nàng quay sang chỉ về phía đối diện.
Bên kia đường, cách khoảng mười mấy trượng về phía Đông, Kỷ Vân Hành nhìn thấy một cánh cổng cũ nát của một tòa nhà.
Sơn trên cửa đã bong tróc, giấy niêm phong dán trên đó cũng phai màu, từng lớp xích treo lủng lẳng, rõ ràng là một tòa nhà đã bỏ hoang nhiều năm.
Cũ kỹ, tiêu điều, bất giác làm cho người ta cảm thấy hiu quạnh.
Kỷ Vân Hành nhìn vào căn nhà đó, trong đầu chợt lóe lên điều gì đó.
Trong ký ức dường như có một cảm giác quen thuộc dâng lên, nhưng thời gian quá xa xôi, khi Kỷ Vân Hành hồi tưởng lại, nàng không thể nắm bắt được bất kỳ hình ảnh nào.
Nàng ngẩn ngơ nhìn mãi, một lâu sau mới hỏi: “Đó là nơi nào?”
Tô Y lại không trả lời câu hỏi này, chỉ vuốt mái tóc dài của Kỷ Vân Hành, như thể mục đích của bà chỉ đơn thuần là để Kỷ Vân Hành nhìn đến ngôi nhà hoang phế đó mà thôi.
Tô Y dẫn nàng vào tham quan một vòng nhà mới của nàng, căn nhà đã cũ, nhưng đồ đạc và kiến trúc bên trong đều đã được tân trang lại, cấu trúc hai lối vào, tiền sảnh và hậu viện không quá lớn, nhưng nếu để Kỷ Vân Hành sống một mình thì lại có vẻ trống trải.
Giấy tờ nhà đất và chìa khóa các thứ được đặt trên bàn trong chính sảnh, do đích thân Tô Y giao lại cho Kỷ Vân Hành.
Vào ngày sinh nhật mười tám tuổi, Tô Y đã tiêu tán tài sản của mình để Kỷ Vân Hành có một tòa nhà thuộc về riêng nàng ở Linh Châu.
Sau khi ăn trưa xong, Kỷ Vân Hành mới trở về tiểu viện.
Hôm nay thu hoạch rất nhiều, nàng cẩn thận bỏ những món quà vào hộp, cất giấu ở nơi mà nàng nghĩ là tuyệt đối bí mật – trong một cái hố đào dưới gầm giường.
Buổi chiều, nàng giặt sạch quần áo rồi treo lên phơi ở sân sau, xong việc lại ngồi trong sân chơi đùa với chó con, chơi đã đời lại đọc sách một lúc, mặt trời bắt đầu lặn dần ở đằng Tây.
Hôm nay, Lục Cúc mang cơm tối đến muộn hơn thường ngày tới một canh giờ, Kỷ Vân Hành đói đến mức bụng sôi ùng ục, vào lúc nàng tưởng rằng tối nay phải nhịn đói thì Lục Cúc đến gõ cửa.
Nàng vội vàng chạy ra mở cửa, chỉ thấy Lục Cúc hốt hoảng đi vào, dùng vai đóng cửa lại: “Đại cô nương mau ăn đi, đây là thức ăn nô tỳ tìm được từ nhà bếp, mặc dù không ngon nhưng cũng đủ no bụng.”
Kỷ Vân Hành mở nắp ra nhìn, đúng là thức ăn hôm nay kém hơn trước rất nhiều, giống như đồ thừa từ bữa trưa hơn.
Nàng nhận hộp thức ăn, thấy sắc mặt Lục Cúc căng thẳng liền hỏi: “Có chuyện gì vậy?”
Lục Cúc thò đầu ra ngoài quan sát khắp xung quanh vài lần, mới nhỏ giọng kể: “Xảy ra chuyện lớn rồi! Nhị công tử đã bị bắt, hiện giờ đang bị giam trong ngục.”
Kỷ Vân Hành kinh ngạc mở to mắt, lập tức cảm thấy không còn đói nữa, nàng vội kéo Lục Cúc hỏi kỹ: “Bị bắt từ khi nào? Bắt vì chuyện gì?”
“Tin tức truyền đến vào giờ Mùi, lão gia nghe tin đã lập tức ra ngoài, đến giờ vẫn chưa về. Phu nhân và Tam cô nương cứ khóc suốt, trong nhà loạn cào cào cả lên, đến nhà bếp cũng không nhóm bếp nấu cơm nữa.” Lục Cúc hạ giọng, nói thêm: “Nô tỳ nghe gia đinh mới ra ngoài mua đồ về kể lại, hình như là Nhị công tử đã tranh giành vũ cơ Du Dương với người khác ở Vạn Hoa Lâu, còn đánh nhau ầm ĩ với người ta, gây ồn ào đến trước mặt Hoàng thái tôn nên mới bị bắt lại.”
Mạch suy nghĩ trong đầu Kỷ Vân Hành trong nháy mắt đã xâu chuỗi lại với nhau, hóa ra người gây chuyện ở Vạn Hoa Lâu hôm nay lại chính là Kỷ Viễn.
Nàng hỏi: “Nhưng chẳng phải Hoàng thái tôn và Kỷ Viễn rất thân thiết sao? Tại sao ngài lại bắt Kỷ Viễn lại?”
“Đại tiểu thư không biết rồi, dạo trước Thái tôn Điện hạ đã nói sẽ đến phủ ta làm khách nhưng cuối cùng lại không đến, từ đó liền xa cách với Nhị công tử. Lần này khó khăn lắm mới cho mời Nhị công tử đến cùng xem ca vũ, ai ngờ Nhị công tử lại gây ra chuyện lớn như vậy.” Lục Cúc chậc lưỡi thở dài, trong miệng còn lẩm bẩm: “Chắc chắn là công tử đã uống nhiều rượu nên mới vậy. Rượu đúng là thuốc độc, uống nhiều thế nào cũng sinh chuyện không may…”
Kỷ Vân Hành lặp đi lặp lại “Thì ra là vậy” ba lần rồi mới hỏi tiếp: “Vậy khi nào hắn mới được thả ra?”
“Nô tỳ cũng không biết, lão gia đã đi ra ngoài lâu rồi, chắc là đang chạy chọt quan hệ tìm cách cứu công tử ra.” Lục Cúc cũng không dám nói nhiều, sau khi báo tin cho Kỷ Vân Hành xong liền vội vã cáo lui.
Kỷ Vân Hành đóng cửa tiểu viện lại, mang theo hộp thức ăn trở vào phòng.
Sau khi mặt trời lặn, sắc trời nhanh chóng tối đen, đèn đuốc trước sau trong Kỷ gia đều đã được thắp sáng.
Chỉ riêng tiểu viện của Kỷ Vân Hành vẫn chìm trong bóng tối.
Nàng ôm chó con ngồi trong sân, trong bóng đêm mờ tối ánh trăng càng trở nên rõ rệt.
Trăng lưỡi liềm trắng sáng treo giữa bầu trời đêm, Kỷ Vân Hành ngẩng đầu ngắm nhìn, giữ nguyên tư thế ấy rất lâu không động đậy.
Khi Hứa Quân Hách vừa xuyên vào chó con, hắn lập tức cảm nhận được mình đang được Kỷ Vân Hành ôm trong lòng. Nàng thích đặt chó con lên đùi, sau đó đưa tay nắn hai chân trước mềm mại của nó.
Mũi của chó nhạy hơn mũi người, ở khoảng cách gần như thế này, Hứa Quân Hách ngửi thấy hương thơm của xà phòng từ trên người Kỷ Vân Hành. Mùi hương có chút ngọt ngào và mát lạnh như vừa mới tắm xong không lâu.
Hắn cảm thấy không thoải mái, quẫy đạp hai chân muốn thoát khỏi người nàng.
Kỷ Vân Hành nắm lấy hai chân trước của chó con, lật nó lại rồi gãi bụng nó.
Chưa từng có người nào dám có hành động thân mật và quá đà với Hứa Quân Hách như thế. Hắn chỉ cảm thấy đầu ngón tay mềm mại của nàng chạm lên bụng mình, để lại một cảm giác vừa nhẹ vừa nhột khiến lông tơ khắp người hắn dựng đứng.
Thế là chó con lập tức xù lông, nó nhe răng gầm gừ với Kỷ Vân Hành, tiếp sau đó là một loạt tiếng sủa “Gâu gâu gâu!”
Kỷ Vân Hành đã không còn sợ khi chó con đột ngột trở nên hung dữ sủa nàng, nàng cười khúc khích tiện tay đặt nó xuống đất.
Hứa Quân Hách liền bật nhảy lao ra thật xa, hung hăng trừng mắt nhìn nàng.
Mái tóc dài đen nhánh còn hơi ẩm xõa xuống trên vai, Kỷ Vân Hành như khoác lên mình ánh trăng, khuôn mặt trắng nõn càng mịn màng.
Dường như tâm trạng của nàng đang rất tốt, nàng đưa hai tay chống cằm, đôi mắt đen láy ánh lên tia sáng: “Học Học, em có biết vui quá hóa buồn nghĩa là gì không?”
Nàng thường xuyên nói chuyện với chó con như vậy, Hứa Quân Hách đã quen nên chẳng thèm để ý, chỉ ra sức lắc bộ lông của mình, cố gắng gạt bỏ cảm giác kỳ lạ trong người kia.
Kỷ Vân Hành lại nói tiếp: “Ta rất muốn biết bây giờ tiền viện trông như thế nào.”
“Hoàng thái tôn bắt hắn lại, vậy chứng tỏ Hoàng thái tôn là người tốt.”
“Kỷ Viễn vốn là người có tâm địa xấu xa, tốt nhất là cứ nhốt thêm vài ngày, đừng thả ra vội.”
Hứa Quân Hách nghe nàng lẩm bẩm mãi, hắn dứt khoát ngồi xuống, trong lòng còn khịt mũi một tiếng.
Mất bao nhiêu công sức sắp đặt mấy tháng trời mới tống được tên khốn vào trong ngục, sao có thể chỉ nhốt vài ngày rồi thả ra chứ, tưởng hắn rảnh rỗi lắm sao?
Vị Hoàng thái tôn đã sắp đặt cục diện gì, vì mục đích ra sao, Kỷ Vân Hành không biết, đám người Kỷ gia cũng không biết.
Tối nay Kỷ gia đèn đuốc sáng trưng, tiếng khóc của Vương Huệ vang khắp cả phủ, những nha hoàn hầu hạ trong phòng đều liếc mắt nhìn nhau để trao đổi, không ai dám có hành động tùy ý.
Kỷ lão gia đã trở về cách đây nửa canh giờ.
Ông ta đã chạy vạy khắp nơi suốt hai canh giờ, tìm gặp không ít người để nghe ngóng nguyên nhân con trai bị bắt lại, nhưng thật sự chẳng có mấy ai biết được tình hình.
Thái độ của người khác đối với ông ta cũng khác một trời một vực so với hai mươi ngày trước. Dù ông ta có chặn người nào lại để hỏi thăm đôi câu, người ta đều chán ghét đuổi ông ta đi vội.
Kỷ Dục không còn cách nào khác, buộc phải đích thân đến Vạn Hoa Lâu một chuyến, bỏ tiền ra hỏi thăm các tiểu thương gần Đảo Tiên Lâu, bấy giờ mới biết được là do con trai mình uống say, không biết đã tranh giành vũ cơ với ai, hai bên đã đánh nhau đến đầu rơi máu chảy, thất lễ trước Hoàng thái tôn khiến ngài nổi giận lôi đình nên đã ra lệnh bắt giam tất cả lại.
Giữa tháng bảy, Kỷ Dục như rơi vào hầm băng, sợ đến mức toàn thân run rẩy.
Việc gấp rút bây giờ là phải tìm người chạy chọt, bỏ ra chút bạc cho những người canh gác ở ngục giam, nếu không thì dù chỉ nhốt một đêm rồi thả ra, con trai ông ta cũng sẽ bị giày vò đến thảm hại.
Tốt nhất là có thể gặp con trai một lần để hỏi rõ ngọn ngành sự việc, từ đó mới có thể dựa vào mối quan hệ tìm cách nhờ vả người khác.
Kỷ Dục mệt mỏi đến nỗi mồ hôi đầm đìa ướt cả ba lớp áo, nhưng cuối cùng lại phát hiện không thể đút lót bạc vào trong.
Hỏi ra mới biết, khi ấy Hoàng thái tôn đã điều động Ngự tiền thị vệ bắt người, lại do cấm quân đích thân canh giữ, lính canh ai dám nhận bạc vào lúc này? Vào thời điểm này mà Kỷ Dục muốn gặp con trai là điều hoàn toàn không thể.
Ông ta cầu cứu khắp nơi nhưng cứ vấp phải trắc trở, đến khi không biết làm gì nữa mới hoang mang đi về nhà.
Vương Huệ đã khóc khàn cả giọng, nghe tin lão gia về phủ đã hối hả chạy ra đón, liên tục hỏi xem con trai đã xảy ra chuyện gì. Giọng nói khàn đặc chói tai của bà ta khiến Kỷ Dục đang phiền lòng càng thêm bực bội, trước mặt đám hạ nhân ông ta tát Vương Huệ một bại tai, đánh bà ta ngã nhào xuống đất.
“Cút về phòng!” Ông ta lớn tiếng quát mắng.
Vương Huệ bàng hoàng, không ngờ lão gia lại ra tay đánh mình. Bà ta ôm mặt ngồi bệt dưới đất, bật khóc nức nở, vừa khóc vừa nỉ non gọi “Viễn nhi, Viễn nhi”
Kỷ Dục càng nhìn càng giận, thẳng chân đá vào người bà ta rồi phất tay áo bước vào thư phòng.
Kỷ Doanh Doanh sợ đến mức không dám lên tiếng. Thấy cha đi rồi, nàng ta vừa khóc vừa đỡ mẹ dậy rồi dìu bà về phòng ngủ, hai mẹ con lại ôm nhau khóc đến nửa đêm.
Dù tiền viện có loạn đến đâu, tiểu viện của Kỷ Vân Hành vẫn yên tĩnh như thế, không ai đến quấy rầy.
Chỉ là mấy ngày nay cơm canh không được ngon miệng lắm, có lẽ vì tâm trạng của chủ nhân không tốt nên hạ nhân trong bếp cũng không dám làm món gì cầu kỳ, phần lớn đều là đồ ăn thanh đạm.
Điều này không ảnh hưởng đến Kỷ Vân Hành, ban ngày nàng vẫn ra ngoài, trên người đeo túi chéo đựng bạc, nhìn thấy món gì ngon là sẽ mua ngay.
Hai ngày qua, Kỷ Dục bận rộn đến mức chân không chạm đất, ông ta gần như không về nhà mà chạy đôn đáo khắp nơi.
Vương Huệ vẫn luôn coi con trai là tất cả của mình, từ khi con trai bị bắt, bà ta lại còn bị trượng phu đánh trước mặt hạ nhân, hai cú sốc ấy giáng mạnh vào người khiến bà ta ngã bệnh nằm trên giường không gượng dậy nổi.
Kỷ Doanh Doanh mới mười lăm tuổi, gặp chuyện thế này chỉ cảm thấy như trời sập, nàng ta khóc đến mức hai mắt sưng như hạch đào, nhưng ngoài khóc ra cũng chẳng làm gì được, chỉ biết chăm sóc mẹ bệnh.
Con trai bị nhốt trong ngục không biết sống chết ra sao, bên phía Hoàng thái tôn cũng không có bất kỳ động tĩnh nào. Kỷ Dục nóng lòng đến nỗi miệng đầy vết rộp, sống cả đời là người trọng thể diện, giờ lại phải chầu cái mặt già đi cầu xin khắp nơi, nhờ ăn nói khép nép khom lưng khuỵu gối cuối cùng thông qua nhiều tầng quan hệ, tìm đến được một Ngự tiền thị vệ.
Nghe nói Ngự tiền thị vệ đó có quan hệ khá tốt với một thái giám trong hành cung trên núi Cửu Linh, có thể nhờ người này nói vài lời trước mặt đại thái giám bên cạnh Hoàng thái tôn, may ra có thể chuyển lời đến Hoàng thái tôn.
Con đường này quá quanh co, nhưng chỉ như thế cũng là thành quả của năm ngày chạy vạy vất vả cầu khẩn khắp nơi, .
Con trai bị nhốt trong ngục đã tròn năm ngày đằng đẵng, Kỷ Dục như đứt từng khúc ruột, không dám tưởng tượng con trai mình đã phải chịu đựng những gì trong đó, chỉ cầu mong nó có thể giữ được mạng sống, ra ngoài toàn vẹn là đủ rồi.
Sau khi truyền tin đi, Kỷ Dục ăn ngủ không ngon, không lúc nào được yên lòng. Mỗi ngày ông ta chỉ ngủ được chừng một hai canh giờ, cả người bỗng chốc gầy đi thấy rõ, tính tình cũng trở nên nóng nảy vô cùng, động một tí là lại đánh mắng hạ nhân, những ai hầu hạ bên cạnh ông ta đều chịu khổ.
Thậm chí ông ta còn chẳng buồn rửa mặt búi tóc, cả ngày đầu tóc rối bù, trông bẩn thỉu chẳng khác nào ăn mày.
Hai ngày sau có người đến Kỷ gia, báo rằng Hoàng thái tôn cho mời ông ta đến.
Kỷ Dục vui mừng quá đỗi, nhất thời không thở hơi lên được nên ngất xỉu tại chỗ, đám hạ nhân lại cuống cuồng mời thầy lang đến.
Sau khi uống thuốc Kỷ Dục cũng tỉnh lại, ông ta vội vàng bảo hạ nhân sửa sang lại cho mình rồi vội vã lên đường đi bái kiến Hoàng thái tôn.
Ngồi xe ngựa đi một đoạn đường dài, suốt dọc đường ông ta cứ thấp thỏm không yên, còn chưa đến nơi mà toàn thân đã ướt đẫm mồ hôi, dáng vẻ vô cùng nhếch nhác.
Cuối cùng, xe ngựa chạy đến một tòa lầu các giữa hồ, bên ngoài có Ngự tiền thị viện dáng người vạm vỡ đứng canh. Kỷ Dục chỉ vừa đến gần, lồng ngực như bị tảng đá đè nặng, hơi thở cũng bị kìm lại.
Thị vệ dẫn đường cho Kỷ Dục lên tầng hai, chỉ thấy mấy thiếu niên có dung mạo thanh tú đứng ngoài cửa, trên người họ mặc trường bào thêu mây ngũ sắc, đầu đội khăn vuông, nhìn thoáng qua cũng biết y phục họ không tầm thường.
Kỷ Dục nhìn thoáng qua nhưng không biết người nào mới là Hoàng thái tôn, còn đang định quỳ xuống hành lễ thì lại thấy hai thiếu niên đứng cạnh cửa đồng thời đẩy cửa ra, đưa tay làm động tác mời.
Trong lòng Kỷ Dục chấn động, thầm nghĩ suýt nữa mình đã làm trò cười.
Khi vừa bước vào, Kỷ Dục thấy trong phòng được che phủ bởi những tấm rèm lụa màu xanh lam đậm, lớp này chồng lên lớp kia, che khuất toàn bộ khung cảnh bên trong.
Căn phòng yên tĩnh đến kỳ lạ, không biết thiết kế ra sao mà không khí lại mát mẻ đến mức xua tan hoàn toàn cái nóng mùa hè, ngay cả mồ hôi trên người ông ta cũng thấm lạnh.
Ông ta thận trọng bước từng bước, vén rèm đi sâu vào trong, qua hai lớp rèm thì tầm nhìn đột nhiên rộng mở.
Căn phòng rộng rãi hiện ra trước mắt. Giữa phòng, một nam nhân mặc trường bào đỏ nhạt thêu hình uyên ương bằng chỉ bạc đang chậm rãi mở nắp lò hương, động tác nhẹ nhàng bỏ thêm hương liệu vào. Sườn mặt người này rất thanh tú, nụ cười nở nhẹ trên môi, cử chỉ ôn hòa toát lên phong thái không phải người tầm thường.
Nếu không có ai khác ở đây, Kỷ Dục nhất định sẽ tưởng rằng đây là Hoàng thái tôn Điện hạ.
Nhưng trên chiếc ghế gỗ son bên cạnh còn có một người ngồi đó, trông dáng điệu rất dửng dưng. Người nọ mặc áo bào màu vàng, trên đó thêu hình mãng xà bốn móng vô cùng oai phong, mái tóc đen mượt buông xõa như dòng mực chảy, trên đầu đội kim quan lấp lánh trông vô cùng xa hoa.
Ánh mặt trời xuyên qua cửa sổ chiếu rọi lên người hắn, khiến toàn bộ cơ thể phát sáng rực rỡ, tôn quý không gì sánh bằng
Nghe thấy tiếng động, người nọ thu lại ánh mắt đang ngắm cảnh hồ, từ từ quay đầu nhìn về phía Kỷ Dục, lộ ra gương mặt tuấn tú vô song.
Đây chính là Hoàng thái tôn, hiện đang nhận được Thánh sủng từ đương kim Hoàng thượng.
Kỷ Dục run rẩy cả người, hai chân bỗng chốc mềm nhũn, ông ta quỳ sụp xuống đất, hai tay chống xuống sàn, dập đầu nói lớn: “Tiểu quan Kỷ Dục, bái kiến Thái tôn Điện hạ.”
Hứa Quân Hách điềm nhiên nói: “Kỷ đại nhân, nghe nói mấy ngày nay ông chạy khắp nơi tìm đủ mọi cách để gặp ta. Có chuyện gì sao?”
Kỷ Dục còn chưa kịp trả lời, cơ thể đã run lên bần bật, rõ ràng đã sợ hãi đến tột cùng.
Nhưng nghĩ đến con trai mình vẫn đang ở trong ngục, ông ta đành cắn răng cất lời: “Bẩm Điện hạ, thằng con nhà tiểu quan mấy ngày trước bị bắt giam nhưng chưa thấy thăng đường thẩm vấn. Tiểu quan chạy đôn chạy đáo cũng không biết nó đã phạm tội gì. Sau khi hỏi kỹ mới biết là đã làm phật ý Điện hạ. Tiểu quan khẩn cầu Điện hạ nể tình Viễn Nhi còn trẻ mà tha cho nó một mạng, mọi tội lỗi tiểu quan xin được gánh chịu thay con mình.”
Căn phòng bỗng trở nên im lặng, mùi hương dịu nhẹ lan tỏa khắp nơi. Kỷ Dục vẫn cúi đầu sát đất, mồ hôi chảy dài trên má thấm vào mắt đau rát, ông ta chỉ dám chớp mắt chứ chẳng dám nhúc nhích.
Không biết bao lâu sau, giọng nói thong thả của Hoàng thái tôn mới vang lên: “Ồ, thì ra là vì chuyện này.”
Hứa Quân Hách khẽ phất tay, Ân Lang liền tiến lên phía trước khom lưng đỡ Kỷ Dục đứng dậy, khẽ nói: “Kỷ đại nhân đứng lên nói chuyện đi.”
Kỷ Dục run rẩy bò dậy, suýt nữa còn kéo Ân Lang ngã cùng, phải mất một lúc mới đứng vững được.
“Trước đó con trai ông uống quá chén nên đã gây gổ với người khác, còn đánh người ta đến mức sống dở chết dở. Chuyện này xảy ra trước mặt bao người, cho dù ta không truy cứu cũng không thể dễ dàng bỏ qua được, thành ra chỉ đành tạm thời giam hắn lại.”
Hứa Quân Hách nói chuyện vô cùng khách khí, giọng nói ôn hòa, không hề tỏ ra cao ngạo: “Nhưng Kỷ đại nhân cứ yên tâm, tính tình của con trai ông rất tốt, ta rất mến hắn nên đã cố ý bố trí ổn thỏa cho hắn rồi. Có lẽ cũng chỉ nhốt mấy ngày nữa thôi.”
Nghe được lời này, Kỷ Dục mừng rỡ vô cùng, nhưng không dám thể hiện cảm xúc ra ngoài quá nhiều, vội cúi đầu nói: “Đa tạ ơn đức của Điện hạ, không biết khi nào thì con trai tiểu quan có thể về nhà?”
“Chuyện này còn tùy thuộc vào Kỷ đại nhân xử lý thế nào.” Hứa Quân Hách nói.
Kỷ Dục không hiểu được lời này, lập tức ngẩng đầu lên, thấy Hoàng thái tôn mỉm cười, ánh mắt ôn hòa nhìn mình: “Nếu Kỷ đại nhân có thể tìm được chút quan hệ, lo lót cho các thị vệ canh giữ con trai ông vài chén rượu ngon, lo liệu mọi thứ cho tốt, làm nhanh thì ngày mai hắn sẽ được trở về nhà ăn bữa cơm nóng rồi.”
Kỷ Dục nghe vậy chợt bừng tỉnh, trước đó vì chuyện này do đích thân Hoàng thái tôn ra lệnh bắt giữ, nên ông ta không dám tùy tiện tặng lễ hối lộ, việc này vô cùng kiêng kỵ.
Nhưng nay được chính Hoàng thái tôn lên tiếng gợi ý, Kỷ Dục lập tức thấy nhẹ nhõm hẳn, ông ta vội vàng dập đầu sát đất tạ ơn rồi nhanh chóng rời đi, trở về còn khẩn trương ra lệnh cho hạ nhân chuẩn bị lễ vật.
Những món vàng bạc châu báu từ bốn phương tám hướng trước đó tặng đến Kỷ gia, giờ đây cuối cùng cũng có dịp dùng đến.

Bình luận về bài viết này