Cho dù ngọn lửa ở sau núi đã được dập tắt, cho dù viện binh sắp đuổi kịp đến, nhưng đến cuối cùng Hạ Nghiêu vẫn là người đầu tiên tìm ra nơi ẩn náu của Hứa Quân Hách và Ân Lang.
Hạ Nghiêu đã theo bên cạnh Hứa Quân Hách hơn mười năm, đã quá hiểu quá rõ tính cách của hắn. Biết rằng trong tình huống này, Hứa Quân Hách sẽ không dại dột liều mạng chạy qua đám lửa cháy để thoát thân, mà chỉ tạm thời tìm một nơi an toàn trong khu này để ẩn nấp. Vì vậy, Hạ Nghiêu đã dẫn người đi lục sùng tìm kiếm.
Vào lúc đôi mắt Hứa Quân Hách không thể nhìn thấy, thính giác của hắn lại trở nên nhạy bén vô cùng. Hắn nghe thấy tiếng la hét bên ngoài, tiếng cửa của từng căn phòng bị đá văng ra và cả những tiếng bước chân hỗn loạn ngày càng gần.
Càng trong tình cảnh như thế, hắn càng giữ bình tĩnh đến mức đáng sợ, cố gắng giảm nhịp thở xuống mức thấp nhất. Dù là Ân Lang đang ở bên cạnh, nếu không nhờ nhìn thấy dáng người của hắn trong bóng tối mờ ảo, có lẽ y cũng sẽ tưởng rằng trong căn nhà gỗ nhỏ này chỉ còn lại mỗi mình y.
“Điện hạ, thật ra có một việc nô tài chưa nói với ngài.” Đúng vào lúc này, Ân Lang đột ngột lên tiếng.
“Có việc gì để sau hẵng nói.” Hứa Quân Hách khẽ nghiêng đầu, chăm chú lắng nghe âm thanh bên ngoài.
Ân Lang lại lắc đầu, nhẹ giọng nói: “Mấy ngày trước lúc Điện hạ dẫn Kỷ cô nương đến nhà lao, Trì đại nhân đã tìm đến nô tài.”
Hứa Quân Hách hơi đảo mắt, đôi con ngươi không thể tập trung nhưng vẫn tìm chính xác vị trí của Ân Lang, đôi mắt hư ảo dừng trên gương mặt của y.
“Hắn ta có nói với nô tài vài câu.” Ân Lang kể lại.
Ngày đó trong nhà lao, khi thị vệ dẫn Ân Lang đến căn phòng Trì Tiện đang ở, cánh cửa vừa đóng lại, trong phòng chỉ còn lại hai người bọn họ.
Trì Tiện xoay người nhìn y: “Tôn tướng có lời muốn ta chuyển đến cho ngài.”
“Nội Các đã nhận chỉ dụ của Hoàng thượng, trong những ngày tới sẽ ban hành chính sách mới, muốn thành lập Đông tập sự xưởng. Tôn tướng có ý đề cử Ân công công, không biết ý công công thế nào?”
Ân Lang chắp tay hành lễ, cười nói: “Trì đại nhân nói đùa, nô tài chỉ là một tiểu thái giám trong cung, làm gì có tài đức mà được Tôn tướng coi trọng, tiến thân vào Đông xưởng làm quan?”
Trì Tiện thản nhiên đáp: “Ân công công hà cớ gì lại tự xem nhẹ mình? Trong ngoài Hoàng thành có ai dám tiếng to tiếng nhỏ trước mặt Thái tôn? Ngài lại là tâm phúc bên cạnh Điện hạ, hoàn toàn xứng đáng.”
Ân Lang thở dài, lắc đầu nói: “Đó là do Trì đại nhân chưa nhìn rõ mà thôi.”
Y bước về phía trước, tiến lại gần Trì Tiện, đầu vai gần như huých vào vai hắn ta, nói khẽ: “Ta và ngài đều giống nhau, nói cho hay thì ta là tâm phúc trước mặt Điện hạ, còn ngài là tay sai dưới trướng của Tôn tướng. Nói một cách khó nghe thì hai ta cũng chỉ là những con chó được chủ tử nuôi dưỡng mà thôi.”
“Chỉ có điều, ngài là chó săn của Tôn tướng, còn ta là cún cưng của Điện hạ. Đó chính là sự khác biệt giữa ta và ngài.” Ân Lang bật cười hề hề: “Nô tài xuất thân từ trong cung, lời nói có phần thẳng thắn, mong Trì đại nhân đừng để bụng.”
Trì Tiện không hề thay đổi sắc mặt trước những lời khó nghe đó, hắn ta vẫn bình thản nhìn Ân Lang: “Xem ra công công không mấy hứng thú với chức quan này.”
Ân Lang lắc đầu, chắp tay cáo từ rồi quay người muốn đi: “Tính tình chủ tử nhà ta không tốt lắm, nếu biết ta nói chuyện riêng với Trì đại nhân, e là ngài sẽ nổi giận. Nô tài xin cáo lui trước.”
“Vậy Ân công công có từng nghĩ đến người nhà của ngài ở bên ngoài Hoàng cung chưa?” Trì Tiện nhìn theo bóng lưng của y, nói tiếp: “Huynh trưởng của ngài hai năm trước đã thành thân, đến nay đã có một trai một gái. Mà năm ngài vào cung, cha mẹ ngài cũng sinh thêm cho ngài một muội muội, năm nay cũng đã đến tuổi cập kê rồi, Ân công công chưa bao giờ nghĩ đến việc về thăm nhà sao? Cuộc sống vốn ngắn ngủi, lỡ như có ngày gặp biến cố bất ngờ, nếu như mất rồi thì sau này sẽ chẳng còn gặp lại được nữa đâu.”
Ân Lang nghe đến đây còn cười phụt một tiếng, trong căn nhà gỗ nhỏ tĩnh lặng càng khiến âm thanh trở nên rõ ràng hơn, mang theo sự dịu dàng thường thấy của y: “Điện hạ, ngài nói xem họ có ngốc không? Nô tài từ nhỏ đã bị bán vào cung, bị cắt đi vài lạng thịt, từ đó về sau đã trở thành đứa trẻ mồ côi một thân một mình, còn có người thân nào nữa đâu?”
Hứa Quân Hách vẫn lặng lẽ nghe, không nói lời nào.
“Nô tài vốn không định nói những chuyện phiền phức này cho Điện hạ nghe để tránh chọc Điện hạ tức giận. Nhưng lại không ngờ rằng bọn họ không chỉ tìm nô tài mà còn tìm đến Hạ Nghiêu. Việc này là lỗi của nô tài, nô tài không nên giấu giếm Điện hạ.” Ân Lang nói đến đây, hai dòng nước mắt từ trong hốc mắt chảy dọc xuống gò má, nhưng giọng nói của Ân Lang vẫn giữ được bình tĩnh, không thể nghe ra điều gì.
Đôi mắt Hứa Quân Hách không nhìn thấy, đương nhiên cũng không biết Ân Lang vừa nói vừa khóc.
“Chuyện như vậy cũng không còn cách nào khác, từ xưa đến nay lòng người là khó đoán nhất, Điện hạ cũng đừng vì thế mà đau buồn.” Ân Lang dùng tay quệt nước mắt nói tiếp: “Nếu trách thì hãy trách nô tài đã giấu giếm chuyện này, khiến Điện hạ không kịp phòng bị. Cũng phải trách Hạ Nghiêu, chính hắn ta đã sinh lòng phản bội, thật đáng chết.”
Hứa Quân Hách cất giọng trầm thấp: “Không liên quan đến ngươi, hãy ngoan ngoãn ở lại bên cạnh ta là được.”
“Điện hạ, nô tài vốn là một kẻ tính toán nhiều, chỉ biết lợi ích mà thôi. Năm đó lần đầu gặp gỡ đúng vào lúc trời đổ sấm sét, mưa to như trút nước, trong Ngự hoa viên chẳng có một ai, chỉ có Điện hạ đứng giữa trời mưa.” Ân Lang nhớ lại quá khứ.
Năm đó Hứa Quân Hách vừa được sắc phong làm Hoàng thái tôn, hắn khoác lên mình chiếc Hoàng bào dệt vàng, đầu đội kim quan, đứng chắp tay giữa Ngự hoa viên.
Cơn mưa to làm ướt đẫm cả người hắn, mái tóc dài ướt nhẹp rủ xuống vai. Lúc đó Hứa Quân Hách vẫn còn nhỏ, hắn chỉ mới bảy tuổi, khuôn mặt tròn trịa trắng trẻo, đôi mắt đen láy lanh lợi.
Ân Lang của khi ấy không nơi nương tựa, ở trong cung bị bắt nạt đủ điều, trong lòng chỉ mong bám víu vào vị Hoàng thái tôn nhỏ tuổi này.
Y lặng lẽ đi theo Hứa Quân Hách suốt một đường, đợi hắn đã đứng đủ lâu trong mưa, đến khi ướt đẫm cả người rồi mới tiến lên che ô cho hắn.
“Thực ra Điện hạ biết hết đúng không?” Ân Lang khẽ nói rồi lại như tự nhủ với chính mình: “Điện hạ biết rõ nô tài đã đi theo ngài suốt dọc đường, đợi đến khi ngài ướt sũng mới đưa ô tới, nhưng Điện hạ chưa bao giờ so đo với nô tài những việc này. Người đời đều nói ngài mang số mệnh sát tinh, là người vô tình vô nghĩa, nhưng trong mắt nô tài, giữa chốn Hoàng cung lạnh lẽo to lớn ấy, chỉ có trái tim của Điện hạ là còn nóng rẫy.”
Thực ra khi Ân Lang nói đến đây, Hứa Quân Hách đã nhận ra ý đồ của y.
Hắn vội vã đưa tay ra muốn giữ lấy Ân Lang, nhưng vì đôi mắt không nhìn thấy, ngay cả khi Ân Lang không biết võ công, y vẫn dễ dàng tránh né được bàn tay của hắn.
“Ân Lang, quay lại!” Hứa Quân Hách với tay hai lần nhưng đều bắt hụt, giọng hắn gấp gáp hoảng loạn.
“E là Điện hạ đã biết rõ rồi. Lần này Tôn tướng bày mưu, người ông ta muốn giết không phải là ngài, mà chính là nô tài.” Ân Lang đã đi đến cạnh cửa, đặt tay lên chốt cửa rồi mới nói tiếp: “Một mạng nô tài rách nát mà bây giờ cũng có thể đáng giá như vậy, đáng giá đến mức khiến người ta phải tốn công bày ra trăm mưu ngàn kế, tất cả là nhờ vào Điện hạ. Nếu đã như vậy, hãy để nô tài làm chút gì đó cuối cùng cho Điện hạ.”
Tôn tướng không có gan hại đến tính mạng của Hứa Quân Hách, ông ta khổ tâm bày mưu lập kế chỉ là muốn nhổ sạch đôi cánh của Hứa Quân Hách.
Cố tình làm hắn đau khổ, đổ máu và bị tổn thương nặng nề.
Khoảnh khắc Hứa Quân Hách vội vàng đứng dậy, Ân Lang quyết liệt mở cửa bước ra ngoài, y trở tay đóng sập cửa lại, vội vã rút cây trâm trên đầu xuống cài vào chốt cửa.
Trong bóng tối mịt mù, Hứa Quân Hách loạng choạng đi tới cạnh cửa, đầu va mạnh vào cửa nhưng hắn không hề để ý, chỉ cố dùng sức kéo cửa hai lần nhưng không thể mở được.
“Ân Lang!” Hắn giận dữ hét lớn: “Mở cửa ra!”
Ân Lang chỉnh lại mái tóc rối tung, vuốt thẳng lại áo bào khoác ngoài, sửa sang lại áo mũ. Y hắng giọng khẽ ho lên vài tiếng, dùng giọng điệu thoải mái để từ biệt: “Điện hạ, nô tài đi trước một bước nhé.”
Hạ Nghiêu nghe thấy tiếng động bên này cũng vội vàng chạy tới, chỉ thấy Ân Lang mặc trung y đứng một mình ngoài cửa.
Đầu tóc dài vốn được búi gọn bằng trâm cài giờ đã xõa xuống, bị gió thổi tung bay tán loạn. Chiếc áo lót trắng tinh cũng nhuốm đầy máu, trông nổi bật đến chướng mắt.
Tấm cửa sau lưng y vẫn vang lên từng hồi đập mạnh, là Hứa Quân Hách đang cố kéo cửa ra.
Vào lúc Ân Lang đối mặt với Hạ Nghiêu, ánh mắt y lạnh lùng sắc bén như lưỡi dao: “Kẻ bất trung xưa nay thường chẳng có kết cục tốt đẹp gì. Hạ Nghiêu, trước kia ta chỉ nghĩ ngươi đần độn, giờ mới nhận ra ngươi là đồ ngu không có não!”
Hạ Nghiêu cầm đao trong tay, đứng cách đó mười bước.
Hắn ta cũng bị thương khá nặng, trên bắp chân vẫn còn chảy máu ròng ròng, thể lực dường như đã cạn kiệt, lúc này thở hổn hển đứng đó.
“Ngươi là người thông minh, chẳng phải cũng bị Điện hạ đẩy ra làm kẻ chết thay đó sao?” Hạ Nghiêu không cam lòng yếu thế lập tức phản bác lại.
“Ngươi nhận được mệnh lệnh là giết ta hay giết Điện hạ, chẳng lẽ bản thân ngươi còn không rõ?” Ân Lang cười khẩy: “Vết thương ngươi để lại trên người Điện hạ chỉ toàn những vết xước ngoài da không đáng kể, chẳng qua chỉ bôi thêm ít độc mà thôi. Nếu thực sự muốn lấy mạng Điện hạ, cần gì phải tốn sức như vậy?”
Hạ Nghiêu đã làm việc cùng Ân Lang nhiều năm, hắn ta biết rõ Ân Lang mồm miệng lanh lợi, đầu óc nhanh nhạy, lại tinh thông y thuật và độc dược.
Chuyện này không giấu được Ân Lang, Hạ Nghiêu cũng chẳng buồn chối cãi: “Tôn tướng đại nhân chỉ muốn cho Điện hạ một bài học nhỏ mà thôi.”
Ân Lang liếc mắt hỏi: “Ta thật sự rất tò mò, rốt cuộc là lợi ích gì mà có thể mua chuộc được ngươi?”
Tiếng Hạ Nghiêu thở dốc càng nặng nề hơn, hắn ta cất giọng khàn khàn: “Ngươi cam tâm làm chó, nhưng ta thì không! Năm đó, ta sống sót từ Ám Vệ Các bước ra ngoài, đã giết bao nhiêu người, đã ngâm mình trong bao nhiêu máu tươi, ngươi làm sao biết được? Mạng ta quý giá hơn các người nhiều lắm! Những năm qua, ta dãi nắng dầm sương đắm mình trong bao nhiêu khổ cực, trên người ta đủ đầy vết thương, còn mấy lần bước vào cửa tử, nhưng cuối cùng ta nhận lại được gì? Đến cuối cùng chỉ là con chó mà Thái tôn Điện hạ cần thì gọi, không cần thì bỏ! Ta muốn sống dưới ánh mặt trời, muốn có quyền lực trong tay, muốn một tiếng hô vang trời đáp đất!”
“Tôn tướng đã nói, chỉ cần ta hoàn thành việc này, ngài sẽ sắp xếp cho ta vào triều làm quan.” Hạ Nghiêu cười nhạt, buông thõng hai tay ra như bất lực: “Những năm qua ngươi đi theo bên cạnh Thái tôn Điện hạ cũng thấy rõ rồi đó, chỉ có quyền lực mới là tối thượng. Cho dù Điện hạ chỉ là một đứa trẻ mới vài tuổi, nhưng lời hắn nói ra ai dám không nghe theo? Chẳng lẽ ngươi không muốn có sao?”
“Khi ta phải ăn cơm khô uống nước lạnh chịu cảnh màn trời chiếu đất bên ngoài thì bọn quan lại tham lam đó lại được ôm mỹ nhân trong tay hưởng thụ khoái lạc. Sống trong cùng một thế giới, có người hưởng thụ, có kẻ lao khổ. Nếu ta đã có con đường tắt để đi, cớ sao lại từ chối?”
Ân Lang tức giận gào lên: “Những thứ ngươi muốn, Điện hạ cũng có thể cho ngươi!”
“Ân Lang, ngươi tỉnh táo lại đi. Thái tử đã chết hơn mười năm rồi, Thái tôn Điện hạ còn có thể sống được bao lâu?”
Ân Lang nghe được những lời này, cơn giận dữ bỗng chốc bùng lên, y hét lớn: “Ngươi nói xằng bậy! Điện hạ ngày sau nhất định sẽ trở thành một minh quân của thiên hạ! Nhất định sẽ mang lại phồn vinh và thịnh vượng cho Đại Yến! Ngài sẽ khiến vạn quốc đến triều bái, sẽ lưu danh sử sách, sẽ được hậu thế lập tượng ngợi ca!”
“Chủ nhân của ta, vĩnh hằng rực rỡ!”
Ân Lang hét lên đầy phẫn nộ, sau đó y rút dao găm trong tay ra gào thét lao về phía trước.
Hạ Nghiêu vẫn bình thản đứng đó, hắn ta xoay nhẹ bàn tay cầm đao đã dễ dàng đâm thẳng lưỡi đao vào bụng Ân Lang, đồng thời đánh rơi con dao găm trong tay y xuống đất.
Ân Lang chỉ cảm thấy vùng bụng đau nhói, cả người như mất hết sức lực ngã nhào vào người Hạ Nghiêu, máu từ trong bụng trong miệng phun ra chẳng mấy chốc đã nhuộm đỏ quần áo của y.
“Vào đêm Giao Thừa năm Hi Bình thứ ba mươi tám, hai ta đã cùng Điện hạ ngắm pháo hoa. Khi đó ngươi đã nói về sau sẽ bảo vệ Điện hạ cả đời, Điện hạ tin, ta cũng tin, nhưng vì sao…”
Ân Lang túm chặt lấy vạt áo Hạ Nghiêu, hai mắt đỏ ngầu chực chờ nước mắt nhìn hắn ta, y không cam lòng, vừa đau đớn vừa uất hận gằn giọng hỏi: “Vì sao ngươi lại nuốt lời?”
Hạ Nghiêu lạnh lùng đầy Ân Lang ra, cứ thế Ân Lang nằm yên dưới đất.
Hắn ta rút lưỡi đao sắc bén ra, máu tươi lập tức bắn ra nhuộm đỏ lớp áo rồi lan ra nền đất.
Ân Lang nằm đó, đôi mắt nửa khép nửa mở rời rạc nhìn lên bầu trời đầy sương mù, tuyết đầu mùa đã bắt đầu rơi lác đác, một bông hai bông rồi ba bông, từng bông tuyết nhỏ cứ rơi xuống mặt y, lạnh lẽo vô cùng.
Trời mùa đông ở Linh Châu lạnh quá, mới chỉ đầu đông mà tuyết đã rơi rồi.
Điện hạ vốn sợ lạnh nhất, nhưng mỗi lần ra ngoài ngài đều quên khoác thêm áo choàng bông. Sau này không có y ở cạnh, nếu Điện hạ bị lạnh thì phải làm sao đây?
***
“Thiên hạ tấp nập, đều vì lợi ích mà đến; thiên hạ xô bồ, đều vì lợi ích mà đi.”
Tả tướng đương triều Tôn Tề Tranh đặt quân Xe trong tay vào vị trí chủ tướng, ăn mất quân Tướng của đối phương, ông ta bật cười nói: “Trịnh đại nhân, ngươi thua rồi.”
Trịnh Chử Quy đặt cờ trong tay xuống hộp, chắp tay nhận thua: “Tôn tướng quả là cao tay, nước cờ này thật khéo léo.”
“Chỉ vận dụng chút mưu kế nhỏ mà thôi.” Tôn Tề Tranh cũng đặt những quân cờ trong tay xuống bàn cờ, nâng chén trà ở bên cạnh lên nhấp một ngụm: “Dẫu sao thì Hoàng thái tôn cũng chỉ là một tiểu tử miệng còn hôi sữa, chưa hiểu được sức mạnh của chữ ‘lợi’ đối với lòng người, chỉ ngây thơ nghĩ rằng tình nghĩa là trên hết. Nhưng thực ra, tình nghĩa chẳng đáng gì khi đối mặt với lợi ích.”
Trịnh Chử Quy gật gù cười đáp: “Giờ thì hai cánh tay đắc lực của Hoàng thái tôn đã bị chặt đứt, điều này chắc hẳn sẽ là một cú sốc làm giảm nhuệ khí của hắn. E là sẽ yên tĩnh một thời gian.”
“Nếu có thể dùng một đòn khiến hắn gục ngã hoàn toàn, biết đau mà lùi bước thì tốt nhất. Còn nếu hắn cứng đầu cứng cổ, chúng ta vẫn còn cách khác.” Tôn Tề Tranh chậm rãi sắp xếp lại bàn cờ, nở một nụ cười lạnh lùng: “Dùng hơn hai trăm mạng thái giám chôn cùng với hắn, cũng xem như sống không uổng phí đời này.”
“Tôn tướng sáng suốt!” Trịnh Chử Quy đồng tình hùa theo.
Con người trên đời này vốn đều như vậy, có kẻ vì quyền lực mà phản bội, có người dùng mạng sống để tận trung.
Lúc này trong căn nhà gỗ, chẳng biết từ lúc nào Hứa Quân Hách đã không còn nghe thấy âm thanh nào nữa.
Trước mắt hắn chỉ có bóng tối mịt mù, như thể hắn đã rơi vào trong lao ngục vô tận, giữa trời đất chỉ còn lại mỗi mình hắn.
Cả người hắn đã lạnh cóng đến mức chẳng còn cảm giác, máu huyết trong người như đã đông đặc, thời gian trở nên dài đằng đẵng.
Hứa Quân Hách không biết mình đã ngồi trong căn nhà gỗ này bao lâu, hắn chỉ cảm giác như thời gian kéo dài vô tận, không có điểm cuối.
Cái chết tịch mịch như đầm lầy nhớp nháp quấn chặt lấy hắn, xâm nhập vào từng lỗ hổng trong hắn.
Ký ức về đêm tối năm xưa lại tràn về, lúc thi thể của mẹ được khiêng đến đặt trước mặt hắn. Hắn một mình đi vào phòng đóng cửa không ăn không uống, từ chối gặp bất cứ ai, cũng không cho phép bất kỳ ai đến gần.
Khi đó chỉ có Ân Lang bưng cơm vào phòng, y vừa khóc vừa dập đầu quỳ lạy, nài nỉ hắn ăn một miếng, dù chỉ một miếng thôi cũng được.
Y khóc lóc khổ sở, nói rằng nếu hắn còn không chịu ăn, Hoàng thượng sẽ chém hết đầu đám nô tài bọn họ. Hứa Quân Hách cảm thấy tên thái giám này khóc rất tội nghiệp, bèn cầm bát lên ăn hết bát cơm.
Cũng từ đó dạo đó, Ân Lang đã trở thành Đại thái giám thân cận đi theo hầu hạ bên cạnh hắn.
Cách biệt đã nhiều năm, nhưng giờ đây nỗi cô độc khiến người ta ngạt thở ấy lại bao trùm lấy Hứa Quân Hách một lần nữa.
Nhưng lần này sẽ không còn Ân Lang đẩy cửa bước vào, không còn ai khóc lóc van nài hắn ăn một miếng nữa.
Hắn như đã bước vào trong màn sương mù dày đặc, nhưng tâm trí cứ hoài lưỡng lự, đi mãi đi mãi mà chẳng thấy lối ra.
Trong lúc hắn tưởng như mình sắp đông cứng, đột nhiên có một luồng gió mạnh ùa vào khiến toàn thân hắn run lên.
Dù không thấy không nghe, nhưng Hứa Quân Hách vẫn biết luồng gió đó ùa đến là do có người vừa mở cửa ra.
Hắn động đậy những ngón tay đã cứng đờ, vào lúc cảm giác được có người đang chầm chậm tiến lại gần mình, bản năng sinh tồn khiến hắn đột ngột bổ nhào tới tấn công tựa như con thú bị mắc bẫy, hắn đè chặt người nọ ở dưới đất, đồng thời kề sát vật trong tay vào cổ họng của người nọ.
Ngay lập tức, một đôi tay mềm mại ấm áp nắm lấy cổ tay hắn.
Cảm giác mềm mại và quen thuộc khiến hắn ngừng tay lại. Bàn tay còn lại của hắn lập tức lần mò lên trên, chạm vào khuôn mặt người nọ, ngón tay lạnh giá của hắn lướt qua chân mày, mắt và mũi của người nọ.
“Kỷ Vân Hành?” Hứa Quân Hách chậm rãi lên tiếng, giọng nói khàn đặc: “Là Kỷ Vân Hành phải không?”
“Lương Học, Lương Học.” Kỷ Vân Hành vội vàng hô lên: “Là ta, ta đến rồi!”
Nàng bị đè xuống đất, chỉ cảm nhận thân thể lạnh như băng của Hứa Quân Hách, lạnh đến mức không còn chút hơi ấm nào.
Nhóm người Tô Y đứng ngoài cửa cầm đuốc soi sáng toàn bộ căn nhà gỗ.
Kỷ Vân Hành ngước mắt lên, nhìn thấy đôi mắt xinh đẹp của Hứa Quân Hách đang mở to nhưng đồng tử lại rời rạc vô thần, không còn tiêu cự.
Trái tim nàng bỗng hẫng một nhịp, hốc mắt bỗng chốc nóng lên, nước mắt cứ thế lã chã chảy xuống. Nàng đưa tay chạm nhẹ vào mày mắt hắn: “Mắt của Lương Học sao lại thế này?”

Bình luận về bài viết này