Chương 2: Khám nghiệm thương tích

Khi Khương Ly bước ra khỏi phòng, mấy người trong đại sảnh ngay lập tức quay đầu nhìn về phía nàng.

Liễu thị đưa tay chỉ vào người thiếu niên đứng bên cạnh mình, giới thiệu: “Tiết cô nương, đây là Vân Hành con trai ta.”

Phó Vân Hành kinh ngạc quan sát nàng, sau đó chắp tay thi lễ: “Nghe danh Tiết cô nương đã lâu, bên ngoài đồn rằng cô nương có thể cải tử hồi sinh, dung mạo lại đoan trang tú lệ, nay gặp được quả nhiên không sai, dám hỏi cô nương tỷ tỷ ta thế nào rồi?”

Khương Ly cũng khom người đáp lễ: “Vết thương của Phó cô nương đã tổn hại đến tâm mạch, mất máu quá nhiều, ta đã châm cứu và dùng thuốc để giữ mạng cho nàng ấy, nếu trong ba canh giờ tới nàng ấy tỉnh lại sẽ không sao nữa, còn không chỉ đành phó mặc cho số trời.”

Phó Vân Hành nghe đến đây cũng kinh hãi, Liễu thị lại chỉ sang một người khác: “Còn vị này là Thế tử Bùi Quốc Công, Bùi Yến. Cô nương vừa mới trở lại Trường An chắc hẳn còn chưa biết tên tuổi của ngài ấy, cách đây hai tháng ngài ấy vừa được bổ nhiệm chức vụ Thiếu khanh của Đại lý tự.”

Khương Ly nhìn về phía Bùi Yến, ngay khoảnh khắc bốn mắt giao nhau, sợi dây nơi đáy lòng nàng bỗng thắt chặt lại.

Bùi Yến xuất thân từ phủ Bùi Quốc Công, được mệnh danh là nơi “một gia tộc năm vị Tể tướng”. Cha hắn là cố An Nam Tiết độ sứ Bùi Tố, mẹ là Cao Dương Quận chúa Lý Hạm, thế nên trên người hắn cũng mang huyết thống Hoàng thất. Năm 10 tuổi hắn đã viết nên danh tác Tiêu Dao Phú; 11 tuổi đã một mình đấu khẩu cùng ba vị đại nho Nam Tề trên điện Tuyên Chính, được vua Cảnh Đức khen ngợi là “Tài hoa và phong thái xuất chúng” và đích thân ban cho tên tự “Hạc Thần”. Thuở nhỏ, hắn bái nhập bang phái Linh Tiêu Kiếm Tông đệ nhất giang hồ để tập võ, còn là đệ tử đắc ý nhất của Tông chủ Tạ Nghiêu.

Là con ông trời sở hữu văn võ song toàn, tài trí phi phàm như thế nên trước đây Bùi Yến không chỉ là vị hôn phu trong mộng của các khuê môn quý nữ Trường An, mà còn là hình mẫu lý tưởng của đám con cháu nhà quan lại. Năm Khương Ly 13 tuổi nhập học tại Thư viện Bạch Lộ Sơn, Bùi Yến 16 tuổi khi đó cũng đang có mặt trong thư viện. Chỉ khác nhau ở chỗ, nàng đến thư viện để học tập, còn Bùi Yến bị Sơn trưởng giữ lại để giảng dạy thay.

Bóng dáng quân tử thánh hiền ngồi tít trên cao năm nào giờ đây lại trùng khớp với hình ảnh công tử tuấn tú trước mắt. Khương Ly điềm nhiên dời ánh mắt đi, hành lễ một cách quy củ: “Vừa mới trở về nên quả thực chưa hay, tham kiến Bùi Thiếu khanh.”

Bùi Yến lễ độ gật đầu, ánh mắt sâu lắng đầy bình thản.

Phó Vân Hành lo lắng cho thương thế của tỷ tỷ, tức giận đến mức giậm chân, nói: “Tỷ tỷ bị thương nặng như vậy nhất định là tên đồ tể ấy! Chắc chắn là gã!”

Sợ Khương Ly chưa rõ đầu đuôi, Phó Vân Hành còn vội giải thích: “Chỉ e rằng cô nương chưa nghe nói, nửa năm trở lại đây, Trường An xuất hiện một tên sát nhân hàng loạt ra tay độc ác vô cùng tàn nhẫn, tên này có hành tung thần bí, chuyên nhằm vào những tân nương sắp xuất giá. Trước đó đã có 5 cô nương bị hại chết, 5 người này đều chỉ còn 10 ngày nửa tháng là sẽ thành thân, vậy mà ra ngoài rồi lại mất tích vô cớ. Nửa tháng sau đó, thi thể bị phân thây rồi mang vứt đi khắp nơi. Bởi vì thủ đoạn quá tàn khốc, dân chúng đều gọi tên sát nhân này là “Đồ tể tân nương”. Tỷ tỷ ta cũng sắp đến ngày thành thân, cứ nghĩ rằng ra ngoài có hộ vệ đi theo là đã an toàn rồi, không ngờ vẫn xảy ra chuyện ngoài ý muốn…”

Khương Ly cuối cùng cũng dám lên tiếng hỏi chuyện: “Là do hộ vệ không làm tròn bổn phận sao?”

Phó Vân Hành lắc đầu, giọng nghẹn lại: “Tỷ tỷ ta tín đạo, trùng hợp hôm nay lại đúng dịp sinh thần Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn, tỷ ấy khởi hành vào giờ Mùi đến đạo quán Ngọc Chân ở thành Nam để cầu phúc. Ngoài hai thị nữ là Đan Phong và Mặc Mai, tỷ ấy còn mang theo tám hộ vệ. Nhưng đến trước cửa đạo quán, hộ vệ mang theo binh khí lại không được vào, thế nên tỷ tỷ ta bèn dẫn hai thị nữ vào trong. Đạo tràng cầu phúc kết thúc vào giờ Thân, trước khi rời đi tỷ ấy còn nhớ đến rừng bia đá mới xây trong quán. Rừng bia ấy mới được dựng vào tháng mười, có đến hơn trăm khối mà đều là bia cổ vận chuyển từ núi Tam Thanh về. Tỷ ấy muốn đến đó sao chép văn bia nên đã sai Đan Phong vào mượn giấy bút của sư phụ trong đạo quán.”

Phó Vân Hành thở dài khổ não: “Sau khi Đan Phong lấy giấy bút về, tỷ tỷ ta thấy đã không còn sớm nữa nên mới bảo ba người cùng nhau chép cho nhanh. Vì vậy nên ba người đã tách nhau ra mỗi người một ngả. Khi ấy tuy chưa có tuyết rơi nhưng sắc trời đã u ám đi nhiều, lúc cả ba đi vào rừng bia vẫn còn có vài ba du khách khác. Thế nhưng sau khi Đan Phong và Mặc Mai chép được khoảng hai khắc, bốn phía đã vắng tanh không còn bóng người. Hai người họ lo lắng nên lật đật quay lại tìm tỷ tỷ, ai ngờ tìm mãi trong rừng bia mà vẫn không thấy tung tích của tỷ ấy đâu…”

“Rừng bia ấy khá rộng, họ đã tìm khắp một vòng mà vẫn không có kết quả. Họ bèn đi hỏi các sư phụ trong đạo quán, các sư phụ đều lắc đầu bảo không nhìn thấy tỷ tỷ. Họ lại chạy ra hỏi hộ vệ, nhưng đám hộ vệ cũng nói không thấy tỷ tỷ quay lại xe ngựa. Đạo quán Ngọc Chân ngoài cửa chính còn có cửa Bắc và cửa Tây, thế là họ đoán rằng tỷ tỷ có thể đi ra từ cửa khác, thế nên đã phân công cùng các hộ vệ chia nhau đi tìm kiếm xung quanh, tìm suốt nửa canh giờ vẫn không có kết quả…”

“Đến lúc này mọi người mới cảm thấy sự việc không ổn, vội vàng trở về phủ báo tin. Khi ta và cha ta vội vã đến nơi thì trời đã tối đen, nhưng nào ngờ lại phát hiện tỷ tỷ nằm trong rừng trúc cách cửa sau của đạo quán không xa. Lúc ấy tỷ tỷ đã bị thương nặng, quần áo trên người cũng xộc xệch, bọn ta chẳng dám chậm trễ, lập tức đưa tỷ ấy về phủ cấp cứu…”

Khương Ly nghiêm mặt hỏi: “Không ai đi tìm trong rừng trúc đó sao?”

Phó Vân Hành cũng tỏ ra khó hiểu: “Đã tìm rồi, trước khi trời tối còn vào tìm một lượt nữa nhưng không có phát hiện gì. Sau đó trời đã tối đen, mọi người thực sự không biết có thể đi đâu tìm nên mới vòng lại lục soát một lần nữa thì tìm được tỷ tỷ. Sau khi đưa tỷ ấy về phủ, nhà ta đã cho uống một viên Bổ tâm hoàn, tỷ ấy có tỉnh lại nhưng vì sợ hãi quá độ dẫn đến ý thức mơ hồ, hỏi gì cũng không rõ. Nhưng nghe loáng thoáng vài ba từ chắp vá cũng đủ để chắc chắn tỷ ấy đã bị tấn công bất ngờ.”

Khương Ly hỏi tiếp: “Vừa rồi những gì các người nói ta có nghe sơ qua vài câu, vậy ngoài vết thương ở ngực ra, còn có điểm nào chứng minh được người tấn công Phó cô nương là tên sát nhân Đồ tể tân tương kia?”

“Đây cũng chính là chỗ ta muốn nhờ cô nương hỗ trợ.”

Bùi Yến đã biết rõ câu chuyện, hắn im lặng từ đầu đến cuối, đến lúc này mới nghiêm giọng lên tiếng.

Thấy Khương Ly nhìn sang, giọng hắn dịu lại vài phần: “Vừa rồi cô nương đã giúp kiểm tra vết thương cho Phó cô nương, có thể phiền cô nương nói rõ vết thương ấy hình dạng ra sao, có đặc điểm gì hay không? Cô nương có thể dựa vào vết thương đó để phán đoán được hung khí có hình dáng thế nào không? Ngoài ra, trên người Phó cô nương còn vết thương khả nghi nào khác? Nếu có thể nhận định được vết thương gây ra bởi vật gì thì càng tốt.”

Đại lý tự vốn có bộ phận ngỗ tác chuyên khám nghiệm thương tích, nhưng tình hình hôm nay khá đặc biệt nên không thể để ngỗ tác vào phủ được. Hơn nữa hắn lại là đàn ông, cũng không tiện đến tiếp cận tiểu thư của quý phủ, vậy nên thần y Mộc Lan danh chấn giang hồ lại đúng lúc trở thành người hỗ trợ hắn giám định thương tích.

Nhớ đến dáng vẻ hấp hối của Phó Vân Từ, Khương Ly nghiêm túc hồi tưởng lại: “Vết thương chí mạng của Phó cô nương nằm lệch trước ngực trái, nghiêng theo chiều từ trên xuống, miệng vết thương dài khoảng một tấc rưỡi, hình dạng như chiếc thuyền…”

Bùi Yến dịu giọng nhắc: “Càng chi tiết càng tốt.”

Ánh mắt Khương Ly dần tối đi, nàng mô tả kỹ hơn: “Đầu dưới của vết thương hở rộng hơn đầu trên, bên trong vết thương cũng là trên nông dưới sâu, miệng vết thương cực kỳ sâu có thể nhìn thấy cả xương, nhưng thành trong lại nhẵn mịn, chứng tỏ hung thủ chỉ đâm có một nhát.”

“Xung quanh vết thương có một vết bầm xanh tím tụ thành vòng tròn, giống như dấu vết do chuôi dao lưu lại khi toàn bộ lưỡi đâm ngập vào ngực Phó cô nương… con dao này có chiều dài lưỡi dao gần như bằng độ sâu vết thương…”

Nàng thoáng trầm ngâm rồi nói chắc nịch: “Ba tấc, lưỡi dao ấy dài nhất cũng chỉ ba tấc, hơn nữa còn là loại dao một lưỡi. Hung thủ chắc chắn đã cầm dao đâm Phó cô nương từ trên xuống nên mới tạo thành thương tích sâu nông không đều như vậy. Loại dao ngắn này khả năng cao là mấy vật dụng nhỏ gọn tiện tay như dao khắc hay dao rọc giấy. Ngoài ra, trên người Phó cô nương còn nhiều vết bầm và trầy xước, nhìn từ những vết trầy ở chân có thể thấy được giống như bị vật sắc nhọn nào đó cứa vào…”

Phó Vân Hành đã vào cánh phải của đội Kim Ngô Vệ được 1 năm, cũng từng xử lý một vài vụ án, cậu ấy nghe thế cũng mừng rỡ: “Cô nương chắc hẳn từng khám chữa vết thương ngoài da cho không ít người trong giang hồ nhỉ? Cách mô tả của cô không kém gì ngỗ tác đến giám nghiệm!”

Khương Ly điềm tĩnh nói: “Thầy thuốc chữa bệnh vốn cũng phải bóc tách chứng cứ, tra ngọn tìm nguồn, truy tìm nguyên nhân. Người trong giang hồ lại thường bị trúng độc và va chạm bởi binh khí, lúc tìm đến ta vừa để trị thương nhưng cũng vừa để giám định vết thương. Lâu ngày thành quen, ta cũng hiểu được phần nào đạo lý trong đó.”

Giọng điệu của Bùi Yến trở nên nghiêm nghị hẳn: “Hung khí là dao một lưỡi dài khoảng ba tấc, trùng khớp với những gì được phát hiện ở các nạn nhân trước.”

Nói dứt lời, hắn lại nhìn về phía Khương Ly: “Có thể làm phiền cô nương kiểm tra lại thật kỹ các vết thương trên người Phó cô nương lần nữa được không?”

Phó Vân Từ vẫn đang trong cơn nguy kịch nên Khương Ly có hơi chần chừ, Bùi Yến thấy rõ vẻ khó xử của nàng, bèn kiên nhẫn giải thích: “Tên hung thủ này luôn vứt xác sau nửa tháng gây án, địa điểm vứt xác lại toàn những nơi bẩn thỉu hôi hám, vì vậy nên dù đã tìm được phần lớn thi thể của 5 nạn nhân trước đó, nhưng lúc tìm thấy thì thi thể đều đã thối rữa gần hết, manh mối còn sót lại vô cùng ít ỏi.”

Phó Vân Hành chen vào: “Đúng vậy, đó là điều xảo quyệt nhất của tên hung thủ này. Vụ án này kéo dài nửa năm rồi, Hạc Thần ca ca tiếp nhận vụ án cũng hai tháng nhưng vẫn chưa có tiến triển gì. Nạn nhân gần nhất mất tích ngày 16 tháng 10, giờ mới ngày 11 tháng này mà gã lại bắt đầu gây án!”

Bùi Yến nói tiếp: “Phó cô nương sau khi bị tấn công mà vẫn may mắn sống sót, việc kiểm tra thương tích không chỉ giúp xác định hung thủ có phải là Đồ tể tân nương hay không, mà còn có thể tìm ra manh mối trực tiếp liên quan tới hiện trường và thông tin của kẻ sát nhân lần này. Vậy nên xin cô nương hãy kiểm tra lại một lần nữa, đặc biệt là vùng đầu, cổ và mũi miệng của Phó cô nương.”

Dứt lời, hắn lại quay sang nói với Phó Vân Hành: “Lấy giày tất và quần áo của tỷ tỷ đệ ra đây.”

Lời lẽ của Bùi Yến đẩy khẩn khoản, Liễu thị và Phó Thịnh cũng không còn gì phản đối. Khương Ly lập tức quay lại vào gian trong, Phó Vân Hành cũng đi theo phía sau, trước là xem tình hình Phó Vân Từ, sau mới bảo Đan Phong và Mặc Mai đưa lại quần áo của tỷ tỷ mặc ban ngày cho mình.

Chờ cậu ấy rời khỏi, Khương Ly mới cẩn thận gỡ bỏ vạt áo lót của Phó Vân Từ ra. Trước đó nàng chỉ kiểm tra xem còn vết thương ngoài da hoặc gãy xương nào khác, còn giờ là để tìm manh mối nên tất nhiên phải tỉ mỉ hơn. Nhớ lời Bùi Yến dặn, nàng bắt đầu tra xét từ vùng đầu, cổ và mũi miệng của Phó Vân Từ…

Sau hai khắc đồng hồ, Khương Ly từ bên trong rảo bước nhanh ra ngoài.

Nàng nói rất nghiêm túc: “Bùi đại nhân nói không sai, sau gáy Phó cô nương có một vết sưng u lên, là do bị vật cùn đánh mạnh vào. Vị trí đó trúng ngay hai huyệt Phong phủ và Á môn, đủ để khiến người ta hôn mê ngất xỉu. Ngoài ra, trong khoang mũi của nàng ấy còn phát hiện một lượng nhỏ bột thuốc màu nâu, là hỗn hợp của hoa náo dương và cây khoai ma. Hoa náo dương có tác dụng gây ảo giác, tê liệt thần kinh, còn khoai ma có cực độc, hỗn hợp này là thuốc mê có hiệu lực cực cao. Có lẽ hung thủ sau khi đánh lén Phó cô nương, để phòng bất trắc mới dùng thêm thuốc mê.”

Nàng dừng lại chốc lát rồi nói tiếp: “Nếu ta đoán không lầm, thể chất của Phó cô nương khác với người thường, nàng ấy có sức đề kháng mạnh với mấy loại thuốc mê thế này, đây cũng chính là lý do chủ yếu giúp nàng ấy có thể thoát chết trong gang tấc.”

Liễu thị nghe xong, kinh ngạc nói: “Cô nương nói đúng lắm! Mấy năm trước A Từ từng vô ý bị thương, lúc đó đại phu cũng dùng thuốc tê để làm dịu cơn đau cho nó nhưng lại không có tác dụng, khi ấy đại phu còn nói thể chất của nó khác với người thường. Cô nương thật lợi hại!”

Khương Ly không biết nên đáp lại thế nào, lúc này Bùi Yến đã đưa ra kết luận của mình: “Thuốc mê, vết thương ở cổ, thủ pháp gây án của hung thủ trong mấy vụ trước cũng là như vậy. Có thể khẳng định rằng kẻ tấn công Phó cô nương chính là tên sát nhân Đồ tể tân nương kia!”

Liễu thị hít sâu một hơi lạnh: “Trời ơi, thật sự là tên sát nhân đó sao! A Từ lại có thể sống sót thoát khỏi tay tên sát nhân đó! Đúng là trong cái rủi có cái may…”

Phó Thịnh cũng thấy sợ hãi: “Lần này là A Từ mạng lớn.”

Trái tim Khương Ly khẽ thắt lại, nàng nói tiếp: “Ở vị trí khóe môi và gò má của nàng ấy có vết bầm, là do con người dùng bạo lực gây ra. Trán, vai và eo có vết tím bầm như bị va vào vật cứng, đặc biệt bên eo có vết bầm tán rộng theo dạng vệt dài, giống như va vào những chỗ như mép bàn vậy. Ngón áp út tay trái gãy móng, mu bàn tay và cẳng tay phải có vết cào, khả năng là từng giằng co với hung thủ. Ngoài ra, cẳng chân, gót chân và mắt cá có vết trầy xước dài, có thể là bị kéo lê, cũng có thể là do nàng ấy bỏ chạy gây ra. Một vài vết trầy thậm chí còn rướm máu, giống như bị gai nhọn cứa vào…”

Nàng cất giọng chắc nịch: “Với thời tiết hiện nay, ta chỉ có thể nghĩ đến một loại gai thường gặp mà còn có thể làm thuốc, đó chính là gai bồ kết. Loại này có công hiệu tiêu sưng, đào thải độc tố, thường mọc ở ven rừng hay đường núi những nơi có ánh mặt trời không thiếu nước.”

Bùi Yến vừa xem xét xong bộ quần áo lấm bùn của Phó Vân Từ, nghe vậy bèn cầm tờ giấy dâu bên cạnh bước tới nói: “Cô nương xem thử, có phải là thứ này không?”

Khương Ly chăm chú quan sát thật kỹ: “Không sai, đúng là gai bồ kết!”

Trên giấy vỏ dâu chỉ có vài vụn gỗ gãy màu nâu đỏ, nếu là người thường e rằng không nhận ra được đó là gì. Nhưng Khương Ly y thuật cao minh, tinh thông dược lý, có nàng giám định thì không thể sai được.

Bùi Yến cất vật chứng lại, ánh mắt thâm sâu lại nhìn về phía gian phòng trong: “Phó cô nương mất tích trong rừng bia của đạo quán Ngọc Chân, sau đó lại chạy thoát về rừng trúc. Tên hung thủ giết người kia chắc hẳn không thể ở quá xa nơi đó. Những gì Phó cô nương nhìn thấy lúc mất tích, đợi nàng ấy tỉnh lại hỏi chuyện là sẽ rõ ngay. Nhưng đêm nay tuyết lớn quá, tuyết đọng sẽ che giấu đi những dấu vết và chứng cứ mấu chốt. Đợi nàng ấy tỉnh rồi mới đi tìm nơi bị tấn công e rằng đã không còn kịp nữa, ta phải tranh thủ đêm nay đi đến đạo quán Ngọc Chân một chuyến trước, tranh thủ được phút nào hay phút ấy. Các người cứ ở lại đây chờ Phó cô nương tỉnh là được.”

Phó Thịnh ngập ngừng định nói: “Thế tử…”

Bùi Yến dứt khoát đáp: “Bá gia yên tâm, ta chỉ dẫn theo Cửu Tư và Thập An.”

Cửu Tư và Thập An là tùy tùng thân tín của Bùi Yến. Trong lúc Phó Thịnh còn đang ngẩn người, Bùi Yến đã cáo từ rời đi. Phó Vân Hành nhìn theo, giậm chân sốt sắng nói: “Tuyết lớn thế này mà không dùng người của nha môn, vậy thì phải tìm đến bao giờ? Không được! Cha mẹ, con dẫn theo hai hộ vệ đi cùng Hạc Thần ca ca, con nhất định phải báo thù cho tỷ tỷ!”

Vừa dứt lời, hai người một trước một sau đã biến mất ngoài phòng, Liễu thị bước vội vài bước định gọi Phó Vân Hành quay lại, nhưng nghĩ đến việc Bùi Yến chỉ là người ngoài mà còn không ngại gian khổ, bà ấy dù xót con đến mấy cũng chỉ có thể nén lòng.

Khương Ly đứng yên tại chỗ cũng có vẻ ngơ ngác, nhưng ngay sau đó đã xoay người vào gian trong bắt mạch cho Phó Vân Từ.

Mọi người đều chờ bên giường, dưới ánh mắt trông đợi của mọi người, Khương Ly vẫn chỉ lắc đầu: “Khó mà tỉnh lại trong lúc này.”

Liễu thị đã sắp khóc cạn nước mắt, bà ấy nắm chặt tay Phó Vân Từ không buông, Phó Thịnh cứ đi qua đi lại không ngừng, thỉnh thoảng lại nhìn ra ngoài cửa sổ không rõ đang lo lắng điều gì…

Chẳng bao lâu sau, Liễu thị lên tiếng dặn dò hạ nhân: “Đi sắp xếp phòng cho Tiết cô nương, giờ đã muộn quá rồi.”

Khương Ly chỉ vào chiếc giường La Hán bên dưới cửa sổ phía Tây: “Không cần phiền vậy đâu, lát nữa ta sẽ ngồi ở đó chợp mắt nghỉ ngơi một lúc là được. Tình trạng của Phó cô nương có thể thay đổi bất cứ lúc nào, ta cũng không yên tâm đi ngủ được.”

Liễu thị cảm kích vô cùng: “Thật không biết phải báo đáp cô nương thế nào cho phải!”

Khương Ly nhìn sang Phó Vân Từ trên giường, điềm nhiên đáp lại: “Chuyện nên làm.”

Vừa nói xong, ánh mắt nàng bỗng liếc thấy mấy trang giấy đặt trên chiếc bàn con bên cạnh giường La Hán, nàng chậm rãi bước đến cầm một tờ lên khẽ đọc: “Thái thượng viết phúc họa vô môn…”

Đan Phong lập tức giải thích: “Là bia văn hôm nay chúng nô tỳ sao chép lại đó ạ.”

Khương Ly nhớ mang máng nhiều năm trước Phó Vân Từ từng rất tin đạo phật, nàng thản nhiên hỏi: “Phó cô nương thành kính thế này chắc là đã tín đạo lâu rồi nhỉ?”

Đan Phong lắc đầu: “Chỉ mới bắt đầu tin từ 4 năm trước, khi ấy tiểu thư và Từ công tử đã đính hôn, Từ lão phu nhân rất tín đạo giáo, tiểu thư thường đến thỉnh an nên dần dà cũng cùng tin theo…”

Sợ Khương Ly thấy kỳ lạ, Đan Phong còn bổ sung thêm: “Khi đính hôn 4 năm trước, tiểu thư vừa tròn 17, vốn định sang năm sau qua sinh nhật 18 tuổi sẽ thành hôn. Nhưng nửa năm sau đó, Từ lão thái gia đột ngột qua đời, nhà họ Từ quy củ nghiêm khắc, Từ công tử phải thủ hiếu cho ông nội nên mới kéo dài đến năm nay. Hôm nay tiểu thư chép bia văn cũng là để đưa tặng cho lão phu nhân, nhưng không ngờ lại xảy ra biến cố này. Hôn lễ tháng sau biết làm sao mới được đây…”

Nếp sống ở Đại Chu đã khai mở trở nên phóng khoáng hơn nhiều, nữ tử 20 tuổi mới thành thân cũng không gọi là muộn. Nhưng đối với các thế gia vọng tộc, đa phần đều chọn định hôn sự cho con gái lúc 14 – 15, đến 17 – 18 là thành thân, như Phó Vân Từ đến 21 tuổi chưa thành hôn quả thật là hiếm thấy.

Gió tuyết vẫn còn gào thét ngoài cửa sổ, trong phòng lại tĩnh lặng đến mức rơi kim cũng nghe được tiếng. Liễu thị không rời mắt khỏi Phó Vân Từ, Phó Thịnh cũng ngồi ngẩn người bên cạnh, Thúy ma ma và hai thị nữ liên tục dâng trà nóng, chẳng ai dám thả lỏng tâm trạng. Nhưng giờ Dần đã trôi qua quá nửa, đèn nến đã sắp cháy cạn mà Phó Vân Từ vẫn chưa có dấu hiệu tỉnh lại.

Lúc này bên ngoài tuyết đã vơi bớt, chỉ còn gió lạnh rít gào không ngừng. Liễu thị ngắm nhìn khuôn mặt trắng bệch không còn hồng hào của con gái, không kìm được lại thút thít.

Thúy ma ma nghẹn giọng nói khẽ: “Tiết cô nương, đã sắp hết ba canh rồi.”

Khương Ly lắc đầu: “Hiện tại ngoài việc chờ đợi đã không còn cách nào khác.”

Ai nấy đều nóng ruột như lửa đốt, nhưng lại bất lực không thể làm gì khác hơn.

Đúng vào lúc này, bên ngoài chợt vang lên một tràng tiếng gõ cửa, Thúy ma ma vội vã đi ra ngoài, lát sau lại hoảng hốt chạy ngược trở lại: “Bá gia, phu nhân, người nhà họ Từ đến rồi! Là Vương ma ma bên cạnh Từ lão phu nhân đến, bà ta đã được hạ nhân dẫn vào hậu viện, còn nói là đến thăm Đại tiểu thư.”

Liễu thị lo lắng không yên, Phó Thịnh đã có tính toán từ trước: “Trời còn chưa sáng mà đã đến, ta biết ngay mà, hôm qua lúc tìm người ở đạo quán Ngọc Chân làm ầm ĩ thế, chắc chắn không thể giấu được. E rằng bên phía nhà họ Từ đã nghe phong phanh gì đó rồi.”

Liễu thị lau khóe mắt đứng dậy: “Thôi để ta đi gặp, cứ nói hôm qua lúc A Từ đi cầu phúc đã lạc với đám nha hoàn nên mới gây nên hỗn loạn như vậy, sau khi về nhà đã cảm lạnh nên ngủ mê, không tiện gặp người ngoài.”

Phó Thịnh thở dài: “Chỉ sợ khó mà giấu được.”

Liễu thị đã khóc sưng hai mắt, đêm nay lại thức thâu đêm không ngủ, lúc này trong mắt hằn đầy tơ máu, chỉ sắc mặt của bà ấy thôi đã khó lừa được người khác. Nhưng hai nhà đã đính hôn nhiều năm, nhà họ Từ lại có quyền thế rất lớn ở trước Hoàng thượng, bà ấy buộc phải đối phó cẩn trọng.

Liễu thị chỉnh lại búi tóc, vuốt phẳng lại vạt áo, nhưng ngay vào lúc bà ấy chuẩn bị bước ra ngoài, trong phòng bỗng vang lên một tiếng rên khe khẽ. Mọi người trong phòng đều sững sờ, người đứng gần giường nhất là Đan Phong bỗng mừng rỡ kêu lên: “Phu nhân! Tiểu thư tỉnh rồi!”

Liễu thị lập tức xoay người lại, nhìn thấy Phó Vân Từ nằm trên giường đã thật sự mở mắt ra, bà ấy mừng rỡ như điên, lúc này làm gì còn tâm trí đi quan tâm người nhà họ Từ, lập tức nhào về phía giường: “A Từ! Mẹ ở đây…”

Phó Thịnh cũng đi đến bên giường: “A Từ? Con tỉnh rồi sao?”

Phó Vân Từ chầm chậm mở mắt ra, thần trí lúc này vẫn mơ hồ chưa được rõ ràng, nàng ấy yếu ớt nhìn về phía hai người trước mặt, sau khi nhận ra là Liễu thị và Phó Thịnh, đáy mắt lập tức ngân ngấn lệ: “Cha… mẹ… cha… mẹ, con còn sống…”

Liễu thị nức nở một tiếng, mừng rơi nước mắt: “Con gái ngoan! Con vẫn còn sống, là Tiết cô nương đã cứu con, con đã hôn mê suốt một đêm rồi, cuối cùng con cũng tỉnh lại, tỉnh là tốt, tỉnh là tốt, tỉnh là tốt…”

Phó Vân Từ mơ màng lẩm bẩm: “Tiết…”

Liễu thị vừa khóc vừa cười nói: “Chính là Đại tiểu thư của phủ Tiết Trung thừa, con còn từng hỏi thăm về nàng ấy đó, may mà tối qua nhà ta đã mời được nàng ấy đến, con vừa tỉnh dậy đừng vội cử động, để Tiết cô nương khám cho con…”

Khương Ly nén xúc động bước tới, thấy Phó Vân Từ ngơ ngác nhìn mình, nàng dịu giọng nói: “Tỉnh lại rồi là không sao nữa, ta nhất định chữa khỏi cho cô, bây giờ ta sẽ bắt mạch cho cô trước, sau đó sẽ xem vết thương đã cầm máu được hay chưa.”

Phó Vân Từ mơ hồ gật đầu, Khương Ly lúc này mới đặt đầu ngón tay lên cổ tay nàng ấy.

Liễu thị, Thúy ma ma và hai thị nữ ở đằng sau nhìn cảnh tượng ấy chỉ thấy xót xa, vừa lau nước mắt vừa thầm niệm “A di đà Phật”.

Lúc này, Thúy ma ma chợt nhớ tới Vương ma ma kia còn đang đợi, bèn nói: “Phu nhân, người nhà họ Từ còn đang đợi thăm tiểu thư…”

Lời còn chưa dứt, Khương Ly đang bắt mạch bỗng nhiên cảm nhận được toàn thân Phó Vân Từ run bắn lên, nàng lập tức ngước mắt nhìn sang, chỉ thấy Phó Vân Từ trợn trừng mắt, gương mặt lộ rõ vẻ kinh hoàng đến run rẩy…


Bình luận

Bình luận về bài viết này