Chương 75: Phi vân nhiễm nhiễm hành cao mộ

Hôm nay là ngày ba mươi tháng Chạp, trời lại đổ tuyết lớn, dân chúng Linh Châu hầu như đều đóng cửa không ra ngoài. Đợi đến đầu giờ chiều mới bắt đầu ra ngoài dọn tuyết, chuẩn bị cho hội chùa tối nay. 

Hứa Quân Hách đặc biệt sai người hỏi thăm mới biết được, theo tập tục địa phương của Linh Châu, mọi người sẽ thường đến chùa cầu phúc vào ngày đầu mỗi tháng. Thế nên chắc hẳn ngày ba mươi tháng Chạp tuyết rơi dày đặc thế này, chùa Vạn Phúc ở ngoại ô Nam thành hẳn sẽ không có ai. 

Chùa Vạn Phúc là ngôi chùa nổi danh nhất Linh Châu, nghe nói bất kể cầu con cái hay cầu tiền tài đều rất linh nghiệm. Mỗi đầu tháng, con đường núi này lại trở nên đông đúc, cửa chùa tấp nập người qua lại, hương khói cực kỳ thịnh vượng. 

Năm đó lúc Hứa Quân Hách mới đến Linh Châu, sau khi gặp phải chuyện tà môn biến thành con chó nhỏ, hắn cũng từng mời trụ trì chùa Vạn Phúc đến hành cung để dâng hương tụng kinh. 

Trước khi rời đi, trụ trì đã tặng Hứa Quân Hách một chuỗi phật châu, chưa nói đến việc nó có quý báu hay không, nhưng chuỗi hạt ấy lại đột ngột đứt vào khoảng thời gian hắn bị mù mắt, có một hạt trong đó dẫu tìm thế nào cũng không thấy. 

Thế nhưng kể từ ngày đó trở đi, hắn đã không còn biến thành chó con nữa. 

Hôm nay hắn lên núi vào chùa là muốn trả lại chuỗi hạt ấy. 

Cửa Phật trước nay luôn chú trọng đến chữ “duyên”, lần này hắn đến cũng coi như để tạ lễ. 

Trong phòng thiền yên tĩnh, không gian tràn ngập khói hương cháy âm ỉ, Hứa Quân Hách và vị trụ trì già ngồi đối diện nhau, trước mặt mỗi người đều có một chén trà nóng. 

Thỉnh thoảng có tiếng vang trầm đục truyền đến, không biết là từ pháp khí nào phát ra, tiếng vọng từng vòng quanh tai khiến lòng người vô thức tĩnh lại. 

Ngồi một lúc lâu, Hứa Quân Hách mới chậm rãi mở lời: “Chuỗi hạt này dù sao cũng hỏng trong tay ta, nghe nói những hạt châu này đều được làm từ chất liệu vô cùng quý giá, đợi đến khi ta về Kinh thành sẽ nhờ người tìm vật liệu làm lại một chuỗi mới gửi đến chùa.” 

Trụ trì ngồi phía đối diện nghe xong lời này từ tốn mở mắt ra, ánh mắt ôn hòa dừng lại trên người Hứa Quân Hách, điềm đạm nói: “Điện hạ, pháp khí có quý giá hay không còn phải xem công dụng của nó lớn đến mức nào.” 

Hứa Quân Hách ngẫm nghĩ, giờ đây hắn đã không còn biến thành con chó nhỏ nữa, tà môn thì vẫn là tà môn, nhưng chuỗi tràng hạt này quả thực đã lập công lớn, thế là hắn trả lời: “Vậy ta càng phải bồi thường, nó đã giúp ta rất nhiều.” 

Trụ trì nở nụ cười từ bi: “Điện hạ là Trữ quân, là chủ nhân tương lai của thiên hạ, một ý niệm có thể quyết định sinh tử của vạn dân. Pháp khí này không phải giúp Điện hạ, mà là giúp người trong thiên hạ.” 

Đó là điều Hứa Quân Hách chưa từng nghĩ đến. 

Lần trước hắn mời trụ trì từ trong chùa đến hành cung, hắn ngồi cao trên điện, không hề che giấu vẻ cao ngạo trời sinh. 

Hắn không phải người lạm sát kẻ vô tội, xem mạng người như cỏ rác; nhưng cũng chưa từng dừng lại để thấy rõ nỗi khổ của bá tánh trăm dân. 

Chỉ nửa năm trôi qua khi đứng trước mặt trụ trì lần nữa, Hứa Quân Hách giờ đây đã biết nhẫn nại ngồi im, học cách cúi đầu trước sự kiêu ngạo của chính mình. 

Hai người không nói thêm gì nữa, Hứa Quân Hách uống hết ngụm trà cuối, để lại chuỗi hạt trên bàn rồi đứng dậy cáo từ. 

Vừa ra khỏi cửa, hắn mới phát hiện bên ngoài vẫn đang có tuyết rơi, các hòa thượng trong chùa chia nhau quét tuyết, nhờ đó mà lớp tuyết trên mặt đất không tích tụ quá nhiều. 

Tuân Ngôn giương ô che cho hắn, thấp giọng nói: “Điện hạ, vừa rồi nô tài nghe các hòa thượng nói, ở trong sân viện phía Đông của chùa có một vườn hoa mai, ngài có muốn đến xem không?” 

Hứa Quân Hách nào có tâm trí ngắm hoa, vừa định lên tiếng từ chối nhưng lời đến bên miệng bỗng chững lại. 

Giữa mùa đông trăm hoa tàn lụi, chỉ có hoa mai vàng bừng nở là sức sống rực rỡ nhất giữa vạn vật suy tàn. Nếu hái một nhành mai tặng cho Kỷ Vân Hành, có lẽ sẽ giúp nàng vui vẻ hơn. 

“Vậy thì đi xem thử.” Hứa Quân Hách mân mê đầu ngón tay, trong lòng đã dự định sẽ hái nhành mai nở rộ nhất. 

Tuân Ngôn che ô cho hắn, hai người đi về phía Đông viện, vừa bước qua cổng vòm nhìn vào quả nhiên đã thấy được cảnh tượng hoa mai nở rộ khắp sân, những đóa hoa màu vàng nhạt nhuốm ánh đỏ nở dày đặc hòa cùng tuyết trắng bay đầy trời, hình thành nên một cảnh sắc độc đáo. 

Hứa Quân Hách bước vài bước tới, ánh mắt vô tình lướt qua bỗng bắt gặp một bóng đen đứng dưới tán mai. 

Khi hắn quay đầu nhìn kỹ hơn mới nhận ra đó là một cô nương mặc váy áo đen, dây buộc tóc trắng nằm gọn trên mái tóc dài, trong tay cầm một chiếc ô đơn sắc không che tuyết cho mình mà lại kiễng chân cố gắng giơ cao ô, dùng mặt ô đỡ nhành mai phía trên đầu. 

Cánh tay cầm ô cứ chao đảo làm tuyết đọng trên hoa mai rơi xuống lả tả, nhành mai bị tuyết đè cong cũng nhờ vậy mà ngẩng lên. 

Hứa Quân Hách nhìn theo bóng lưng nàng, bỗng bật cười thành tiếng. 

Tuân Ngôn thấy hắn bỗng dưng bật cười khó hiểu, bèn hỏi: “Điện hạ, có cần nô tài gọi cô nương đó đến hỏi chuyện không?” 

Hứa Quân Hách lại lắc đầu. 

Tuân Ngôn không nhận ra cô nương trước mặt là Kỷ Vân Hành, điều này cũng không trách y được, bởi vì y chỉ mới đến Linh Châu được một khoảng thời gian ngắn. 

Còn hắn không biết từ khi nào đã luyện được đôi mắt tinh tường, đến mức chỉ cần thấy bóng lưng cũng có thể nhận ra người trước mặt là Kỷ Vân Hành. 

Hay là nói rằng giữa hắn và Kỷ Vân Hành có duyên nên mới có thể gặp nhau ở chùa này. 

Đang lúc suy ngẫm, bỗng có một hòa thượng từ cổng đá phía sau bước vào, nhìn thấy Hứa Quân Hách liền cúi mình hành lễ, đang định rời đi chợt bị hắn gọi lại. 

Hứa Quân Hách hất cằm chỉ về phía Kỷ Vân Hành: “Nàng ấy đến đây làm gì?” 

Hòa thượng kia đáp: “Vị thí chủ này đến để cầu kiến Chính Thiện sư huynh.” 

Hứa Quân Hách hỏi: “Nàng ấy tìm đại sư làm gì?” 

Hòa thượng đáp: “Không rõ. Hằng năm vào ngày này, cô nương ấy đều lên núi cầu kiến Chính Thiện sư huynh, nhưng sư huynh chưa bao giờ gặp nàng.” 

Một nét nghi hoặc hiện lên trên mày mắt Hứa Quân Hách: “Hằng năm?” 

“Đây đã là năm thứ tám.” Hòa thượng đáp.

Hứa Quân Hách quay đầu, ánh mắt một lần nữa dừng lại ở bóng lưng của Kỷ Vân Hành, bất chợt trong khoảnh khắc ấy hắn nhận ra mình vẫn chưa hiểu rõ nàng đủ sâu sắc.

Nàng có thể chịu đựng gió tuyết, vào ngày ba mươi tháng Chạp hằng năm lên núi xin gặp vị đại sư tên là Chính Thiện suốt tám năm liên tục, trong cái giá lạnh khắc nghiệt này lên núi đâu có dễ dàng. Chắc chắn không phải hứng thú nhất thời muốn dạo chơi.

Nhất định nàng đang ôm ấp một mục đích mãnh liệt nào đó, có lẽ là một bí mật giấu sâu trong lòng nàng.

Hứa Quân Hách phất tay, sau đó bước theo hòa thượng đi đến sau lưng Kỷ Vân Hành.

Hòa thượng nói với nàng: “Thí chủ, hôm nay Chính Thiện sư huynh từ chối tiếp khách.”

Kỷ Vân Hành quay lưng về phía Hứa Quân Hách nên không nhận ra sự hiện diện của hắn, nghe thấy câu trả lời này nàng chỉ cúi đầu trông hơi thất vọng, mũi chân cọ xuống nền đất, cất giọng nhẹ nhàng: “Vậy ta đợi thêm là được rồi.”

Có vẻ như năm nào nàng cũng như vậy, hòa thượng đã quen nên không ngạc nhiên, cũng không khuyên giải điều gì, chỉ chắp tay thi lễ rồi rời đi.

Lúc này, Hứa Quân Hách mới lên tiếng: “Tại sao nàng lại ở đây?”

Kỷ Vân Hành nghe thấy giọng nói này bỗng giật mình, hoảng hốt quay đầu lại, vừa hay đối diện với ánh mắt của Hứa Quân Hách.

Chóp mũi nàng đỏ bừng vì lạnh, nàng hít một hơi nhẹ khiến mắt long lanh nước, gió thổi qua làm váy áo nàng nhấp nhô thấp thoáng lộ ra vòng eo mảnh khảnh.

Quá khó để tưởng tượng ra Kỷ Vân Hành lại có thể đi lên núi trong thời tiết giá rét như thế này. Hứa Quân Hách đã từng đi qua con đường núi ấy, ngay cả hắn cũng phải cẩn trọng từng bước, không biết Kỷ Vân Hành đã phải tốn bao nhiêu kiên nhẫn và sức lực mới có thể lên tận đây.

Hơn nữa, nàng chỉ mới vừa khỏi bệnh.

Rõ ràng chính nàng cũng nhận ra hành động này của mình không tốt lắm, thế nên sau khi lộ ra vẻ mặt ngạc nhiên, ánh mắt nàng khẽ lảng tránh, còn ngập ngừng giải thích: “Ta đã khỏe rồi, không cần uống thuốc nữa, sáng nay thức dậy cũng không còn thấy khó chịu ở đâu.”

Hứa Quân Hách đáp: “Người nào bị bệnh cũng nói mình không bệnh.”

Kỷ Vân Hành bĩu môi, lẩm bẩm: “Sao có thể chứ, nếu như ta bệnh ta chắc chắn sẽ thừa nhận mình bệnh.”

Hứa Quân Hách hỏi tiếp: “Hôm nay nàng lên núi để làm gì?”

Kỷ Vân Hành đáp: “Ta đến tìm Chính Thiện đại sư.”

Hứa Quân Hách hỏi: “Tìm ông ấy làm gì?”

Kỷ Vân Hành đáp: “Có vài chuyện muốn hỏi.”

Hứa Quân Hách trầm ngâm một lúc, nhận ra cách hỏi của mình không đúng, kiểu hỏi như thế này sẽ không thể khai thác thêm được điều gì từ nàng.

Hắn quay sang nói với Tuân Ngôn: “Đi tìm một căn phòng ấm áp.”

Cứ đứng nói chuyện giữa gió lạnh thế này cũng không phải cách hay. Cả tai và mũi Kỷ Vân Hành đều đã đỏ bừng, nàng còn lén chà xát hai tay lại với nhau, không dám thể hiện rằng mình đang rất lạnh.

Tuân Ngôn làm việc nhanh gọn, chẳng mấy chốc đã dẫn Hứa Quân Hách và Kỷ Vân Hành vào một căn phòng khách nghỉ ngơi.

Cánh cửa vừa khép lại, gió bên ngoài lập tức gào thét, không chỉ phát ra tiếng rít gào chói tai mà còn đập mạnh vào cửa sổ. Hứa Quân Hách đứng trong phòng nhìn ra ngoài, cảm thấy mình vừa đưa ra một quyết định sáng suốt.

Kỷ Vân Hành ngồi xuống tấm đệm cói trên chiếu, vòng hai tay ôm lấy đôi chân, tựa đầu lên đầu gối len lén nhìn Hứa Quân Hách.

“Nàng không cởi giày mà đã giẫm lên chiếu à?”

Rõ ràng Hứa Quân Hách cũng đang mang giày đứng trên chiếu, nhưng vẫn dùng lý do này để chỉ trích nàng.

Kỷ Vân Hành mím môi: “Ta không muốn cởi giày.”

Hứa Quân Hách cúi đầu nhìn nàng một lúc rồi đột nhiên ngồi xuống, không nói lời nào đã nắm lấy mắt cá chân của nàng.

Kỷ Vân Hành giật mình ngã nhào ra sau, nàng cố chặn tay hắn lại nhưng chút sức lực của nàng chẳng thể địch nổi hắn. Chỉ trong chốc lát, chiếc giày của nàng đã bị kéo ra.

Thực ra chỉ cần chạm vào là có thể cảm nhận được ngay, giày tất của Kỷ Vân Hành đã hoàn toàn ướt đẫm, ngay cả bàn chân cũng chẳng còn chút hơi ấm nào, mềm mại nhưng lạnh ngắt, như thể chỉ cần đứng ngoài trời thêm lúc nữa sẽ đông cứng lại ngay.

Hứa Quân Hách ngẩng đầu lườm nàng: “Nếu như nàng không cần đôi chân này, ta sẽ nhờ thái y cắt bỏ giúp nàng, đảm bảo sẽ không cảm thấy đau đớn, chỉ cần ngủ một giấc thức dậy không còn chân nữa.”

Kỷ Vân Hành lại bị dọa sợ, nàng vô thức muốn rút chân lại, nhưng Hứa Quân Hách vẫn giữ chặt mắt cá chân của nàng không buông.

Hắn không nói lời trách mắng nào, chỉ trừng mắt nhìn nàng bằng ánh mắt nghiêm nghị, như muốn nàng tự nhận thức được sai lầm của mình.

Kỷ Vân Hành có hơi chột dạ, nhưng vẫn cố gắng biện bạch: “Sẽ không đến mức đông cứng đâu, cùng lắm ngón chân út chỉ hơi ngứa chút thôi.”

“Như vậy là đã lạnh cóng rồi.” Hứa Quân Hách giơ tay lên giả vờ đo trên chân nàng, sau đó còn thật sự rút ra một con dao nhỏ từ bên hông giơ lên làm như sắp cắt: “Nàng yên tâm, ta xuống tay rất dứt khoát, không thua gì các thái y kia đâu.”

Kỷ Vân Hành hoảng hồn, sắc mặt tái nhợt, ra sức vùng vẫy mạnh hơn.

Hứa Quân Hách dọa nàng làm ầm ĩ một hồi mới ngừng lại, hắn kéo lò than nhỏ bên cạnh đến gần, túm lấy chân nàng tháo nốt chiếc giày và tất còn lại để nàng hong chân.

Hắn ngồi xuống bên cạnh, ánh mắt dừng lại trên khuôn mặt của Kỷ Vân Hành, từ từ lướt qua đôi mày và khóe mắt.

Vẻ mặt nàng trông rất bình thản, rõ ràng hôm qua vừa tiễn biệt Liễu Kim Ngôn, Hứa Quân Hách vốn nghĩ rằng hôm nay sẽ nhìn thấy một Kỷ Vân Hành với đôi mắt sưng đỏ tràn ngập bi thương.

Nhưng không ngờ Kỷ Vân Hành trước mắt hắn lại bình tĩnh lạ thường, như thể nàng đã sở hữu năng lực có thể quên đi những bi thương sầu khổ.

Cuối cùng Hứa Quân Hách cũng nhận ra những đầu mối tưởng chừng đã quên, sau một hồi im lặng mới lên tiếng hỏi: “Kỷ Vân Hành, nàng từng nói có những chuyện nàng không muốn quên đi, đó là chuyện gì?”

Kỷ Vân Hành cũng ngẫm nghĩ hồi lâu mới nhớ mình đã nói ra câu này khi nào.

Đó là vào ngày diễn ra lễ hội thuyền hoa, khi nàng bị Kỷ Dục bắt gặp trên đường rồi tóm về nhà đánh một trận roi. Sau đó Hứa Quân Hách đến thăm nàng, cả hai đã ngồi ngoài sân trò chuyện với nhau.

Lúc ấy Kỷ Vân Hành đã nói rằng khi bị đánh nàng chỉ biết giơ hai tay ôm đầu, không muốn để ai đánh vào đầu mình, sợ bị đánh trúng sẽ trở nên ngốc nghếch hơn, trí nhớ bị ảnh hưởng sẽ khiến nàng quên đi những chuyện không thể quên…

Thời gian đã trôi qua lâu như vậy rồi, Kỷ Vân Hành không ngờ Hứa Quân Hách vẫn còn nhớ và nhắc lại chuyện cũ.

Thật ra lúc đó nàng nói như vậy, Hứa Quân Hách cũng có hỏi tới nhưng chỉ là tiện miệng hỏi bâng quơ, dường như không mấy quan tâm đến câu trả lời. Nhưng lúc này hắn ngồi cạnh nàng, dùng đôi mắt trong trẻo nhìn nàng, đôi con ngươi đen láy phản chiếu ánh nến bập bùng toát lên vẻ chân thành hiếm thấy.

Kỷ Vân Hành không trả lời, không biết có phải đang suy nghĩ hay không.

Hứa Quân Hách lại nói tiếp: “Hôm nay ta vốn định xuống núi sẽ đi tìm nàng, không ngờ lại gặp nàng ở đây. Nàng hoàn toàn không giống với tưởng tượng của ta. Ta cứ nghĩ hôm nay sẽ gặp được một Kỷ Vân Hành tiều tụy khổ sở.”

“Vì cái chết của Kim Ngôn sao?” Kỷ Vân Hành hỏi lại.

Đó là đương nhiên, Kỷ Vân Hành trông yếu đuối mong manh như thế, dường như một chút long đong cũng có thể làm nàng gục ngã.

Kỷ Vân Hành cúi đầu dùng ngón tay khẽ nghịch những sợi cỏ mây trên chiếu, hành động ấu trĩ như một đứa trẻ con, chậm rãi mở lời: “Năm ta chín tuổi, cũng vào ngày này mẹ ta đã qua đời.”

“Mẹ ta bị bệnh nặng lắm nhưng không ai chữa trị cả, trong đêm Giao Thừa người người nhà nhà vui mừng chào đón năm mới, bà chết trên chiếc giường nhỏ duy nhất trong tiểu viện, không một ai đoái hoài đến.”

Khi kể ra chuyện đau lòng này sắc mặt nàng bình thản lạ kỳ, giọng điệu cũng không chút dao động. Nàng cúi đầu nhìn chân mình, hàng mi dài rủ xuống che khuất đi tầm mắt.

Nàng kể: “Ta đã đập cửa hô hoán rất lâu mà không ai thèm để tâm đến, cuối cùng ta nằm ôm mẹ ngủ suốt đêm trên giường.”

Lời nói vừa dứt, những giọt nước mắt cũng từ từ rơi xuống, đọng trên đầu gối nàng rồi chảy xuống vạt áo.

Đó có lẽ là đêm tối mà Kỷ Vân Hành sẽ ghi nhớ suốt đời.

Nàng còn nhớ tiếng pháo hoa ì đùng vang lên không ngớt đêm ấy, tuyết rơi dày đặc như muốn chôn vùi cả thế gian. Trong căn phòng nhỏ đầy lỗ thủng lọt gió, mẹ đã cuốn chiếc áo bông cũ kỹ dày cộm không vừa người cho nàng.

Trong ký ức của nàng, mẹ vẫn xinh đẹp như thế, cho dù bà đã hao mòn vì bệnh tật dai dẳng, cơ thể gầy gò đến mức chỉ còn da bọc xương, đôi mắt cũng mất đi thần thái. Bà nằm trên giường bệnh, hơi thở nặng nhọc vang lên bên tai nàng rõ mồn một.

Ngày ba mươi tháng Chạp ấy, Bùi Vận Minh chìm trong cơn mê man suốt cả ngày, bà lúc tỉnh lúc mê, không thể ăn được một miếng cơm nào.

Kỷ Vân Hành vụng về đút nước cho bà, nước chảy lênh láng ướt cả cằm và cổ, nàng vừa xin lỗi mẹ vừa lật đật lau đi.

Đến khi màn đêm buông xuống, kỳ lạ thay Bùi Vận Minh bỗng nhiên có tinh thần hơn, bà mở mắt tỉnh táo lại, nắm lấy tay trò chuyện với nàng.

Kỷ Vân Hành năm đó cứ ngỡ rằng bệnh tình của mẹ đã khá hơn, giống như tiếng pháo hoa đưa tiễn năm cũ, gió xuân ấm áp mang rượu Tết đến, sang năm mới rồi thì có lẽ mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn.

Mãi sau này Kỷ Vân Hành mới hiểu thế nào gọi là “hồi quang phản chiếu”. Người ta nói rằng con người trước khi chết sẽ đột nhiên tỉnh táo, tràn đầy tinh thần, khôi phục lại dáng vẻ như bình thường; ngoài mặt nhìn như đã khỏe lại, nhưng thực chất người đã bước vào cánh cửa địa ngục.

Bùi Vận Minh nắm chặt tay nàng, kể về những chuyện quá khứ và dặn dò những chuyện tương lai, thao thao bất tuyệt như thể có bao nhiêu điều chưa kịp nói hết.

Kỷ Vân Hành chỉ lặng yên lắng nghe.

Cho đến khi hơi thở của bà càng lúc càng yếu, giọng nói cũng nhỏ dần. Bà nằm xuống giường, đôi mắt vẫn dán chặt vào khuôn mặt ngây thơ của Kỷ Vân Hành: “Đợi thêm một chút, đợi thêm một chút, Hữu Hữu nhà ta đã sắp mười tuổi rồi.”

Cũng không biết là bà cầu xin ai, nhưng cuối cùng cũng không thể cầm cự qua Giao Thừa, bà mất khi nàng hãy còn chín tuổi.

Khi không còn thở, cơ thể con người sẽ nhanh chóng trở nên lạnh ngắt, cứng đơ, dù có sưởi ấm thế nào cũng không có tác dụng.

Kỷ Vân Hành đội tuyết đập cửa kêu khóc, giọng nói bị gió cuốn trôi trong đêm dần dần bị chôn vùi dưới từng lớp tuyết trắng, mãi cho đến khi mệt lử nàng mới quay vào phòng, trèo lên giường nằm xuống bên cạnh Bùi Vận Minh, nàng kéo cánh tay đã cứng đờ của mẹ đặt lên người mình, sau đó ôm chặt lấy vòng eo đã lạnh cứng, rúc đầu vào trong lòng mẹ.

Cơ thể của Bùi Vận Minh đã không còn ấm áp như trước nữa, da thịt lạnh lẽo đến tận xương tủy. Cô bé Kỷ Vân Hành chín tuổi khi đó chỉ biết cuộn tròn mình lại, cứ thế ôm lấy thân hình không còn hơi thở của mẹ khóc suốt cả đêm.

Trong đêm Giao Thừa khi mọi người hân hoan chào đón năm mới, Kỷ Vân Hành đã vĩnh viễn mất đi người thân duy nhất còn trên đời.

Nàng đã từng trải qua một đêm tối đau thương nhất, khốn khổ nhất và đày đọa nhất trong cuộc đời này, thế nên những khổ cực gian nan về sau đều không là gì cả.

Kỷ Vân Hành biết mình không phải người thông minh, cũng giống như lời mọi người nói, có lẽ đầu óc nàng thật sự có vấn đề, có đôi khi trí nhớ kém hay quên đi vài thứ.

Nàng ngẩng đầu nhìn Hứa Quân Hách: “Trước khi mất, mẹ đã nhiều lần dẫn ta đến đây tìm gặp Chính Thiện đại sư, sau này vị đại sư ấy cũng từng xuất hiện ở Kỷ phủ. Ta đã thấy rõ ràng, cũng nhớ rõ ràng, đây chính là những chuyện ta không muốn quên.”

“Ta không chết trong đêm gió tuyết, cũng không chết trong bệnh tật triền miên, ta chỉ có một việc cần phải làm.” Từ sau khi mẹ qua đời, Kỷ Vân Hành chỉ có một việc muốn làm mà nàng đã kiên trì suốt bao năm nay, cho đến giờ đây vẫn vậy: “Đó là trả lại trong sạch cho mẹ ta.”

“Ta biết chân tướng nằm ở đây, cho dù Chính Thiện đại sư không gặp ta, nhưng mỗi năm vào ngày này ta đều phải đến.”

Kỷ Vân Hành dù phải đối diện với gió tuyết cuồng phong, dù đường lên núi hiểm trở khó khăn, nàng vẫn chưa từng lùi bước, vẫn bền bỉ suốt tám năm trời.

Hứa Quân Hách chăm chú nhìn vào mắt nàng. Sau khi nước mắt nàng rơi xuống, đôi mắt ấy trong veo như được gột rửa, tựa như giờ khắc này hắn đã nhìn thấu được đằng sau sự ngây ngô, ngốc nghếch và yếu đuối kia là một sự kiên cường gắn liền với xương cốt và linh hồn của nàng.

Mùa đông ở Linh Châu lạnh lẽo như thế, đóa hoa hé nở dưới bão tuyết chắc chắn sẽ không có những cánh hoa mềm mại, yếu đuối.

Nàng giống như một hạt giống bị đánh rơi trong chốn đồng không mông quạnh, chầm chậm bén rễ nơi góc khuất không người đoái hoài đến, sau đó lại kiên cường hấp thu dinh dưỡng từ lòng đất xung quanh, nảy mầm rồi lớn lên.

Chính môi trường khắc nghiệt ấy đã nuôi dưỡng nên một sinh mệnh bền bỉ, ngoan cường, một Kỷ Vân Hành chưa từng chùn bước.

Hứa Quân Hách bừng tỉnh như đã ngộ ra điều gì đó, thì ra ngay từ đầu cái tên Kỷ Vân Hành đã nói lên tất cả.

Phi vân nhiễm nhiễm hành cao mộ.

Đám mây chỉ trời cao, hành cao mộ ám chỉ gò đất cao trong đầm lầy mọc cây cỏ thơm. Bùi Vận Minh đặt tên này cho Kỷ Vân Hành với hy vọng nàng có thể thoát khỏi bùn lầy để vươn lên trời cao.

Trong lòng Hứa Quân Hách dâng trào một luồng nhiệt nóng hổi, hắn vô thức nghiêng người đến gần Kỷ Vân Hành hơn một chút, khẽ gọi: “Hữu Hữu.”

Kỷ Vân Hành chăm chú nhìn hắn.

“Ta sai rồi.” Hứa Quân Hách nói.

Cái gì mà chưa từng nghĩ đến chuyện muốn nàng làm Thái tôn phi, cái gì mà không có tâm tư đó với nàng, tất cả chỉ toàn là nói láo.

Hứa Quân Hách giờ đây chỉ muốn đến gần nàng.

Kỷ Vân Hành mở to mắt tỏ ra kinh ngạc, dường như không ngờ rằng sẽ có một ngày Hứa Quân Hách lên tiếng nhận lỗi, mà lỗi gì nàng còn chẳng rõ nguyên nhân.

Hứa Quân Hách nhìn thấy vẻ ngơ ngác của nàng, trong lòng cảm thấy nàng dễ thương không thể tả. Hắn chưa từng nghĩ sẽ có một cô nương như thế, từng hành động cử chỉ, mỗi cái nhăn mày cười mỉm của nàng đều chạm đến tận tim hắn, lay động tất cả cảm xúc trong hắn.

Tình cảm tự nhiên trỗi dậy lan tràn suồng sã ra khắp trong lòng, giục giã hắn nảy sinh khao khát mãnh liệt muốn được gần gũi với nàng.

Hắn nghiêng người tới cúi xuống, muốn chạm vào đôi môi của Kỷ Vân Hành.

Nhưng không ngờ khi sắp chạm tới, Kỷ Vân Hành lại ngỡ ngàng mở to mắt, tránh đầu ra phía sau, ngây ngốc hỏi: “Lương Học, ngài muốn làm gì vậy?”


Bình luận

Bình luận về bài viết này