Chương 76: Chỉ xuân mới biết chốn này!

Hứa Quân Hách nhìn thấy vẻ nghi hoặc trong mắt Kỷ Vân Hành, mới đột nhiên nhận ra rằng mình vừa rơi vào trạng thái thất thần.

Hắn và Kỷ Vân Hành đã dựa vào nhau rất gần, hoàn toàn vượt xa khỏi khoảng cách giao tiếp bình thường, dường như chỉ cần tiến gần thêm chút nữa thôi là hắn đã có thể hôn vào gò má nàng.

Thế nhưng, hắn nhận ra sự tránh né từ hành động của nàng, nhất thời cũng ngượng ngùng đơ người lại, sau đó chầm chậm ngả người ra sau, giả vờ nói: “Hình như trên người nàng có mùi gì đó.”

“Mùi gì cơ?” Kỷ Vân Hành quả nhiên không nghi ngờ gì, nàng giơ tay áo mình lên tự ngửi, nhíu mày hỏi lại: “Không có mùi, vẫn thơm mà.”

“Nếu không có mùi, sao lại là thơm?” Hứa Quân Hách cong môi cười nhẹ, lại nói: “Để ta ngửi thử xem.”

Kỷ Vân Hành không phản đối, để mặc hắn ghé sát lại ngửi bên cổ mình, như thể muốn chứng minh rằng quần áo của mình thật sự có hương thơm. Hành động có phần mạo phạm này nàng hoàn toàn không nhận ra, Hứa Quân Hách cũng im lặng không nhắc đến, chỉ ngửi nhẹ gần cổ nàng rồi nói: “Là loại hương liệu ta đã tặng nàng trước đây.”

Kỷ Vân Hành nghiêng đầu nhìn hắn, ánh mắt lộ vẻ cảm kích: “Ngày nào ta cũng dùng.”

Dường như nàng không cảm nhận được tính xâm lược của Hứa Quân Hách, bất kể hắn có đến gần bao nhiêu cũng cho là bình thường, đồng thời còn xếp những hành động thân thiết này vào phạm trù giữa những người bạn tốt.

Thấy nàng bình thản như vậy, Hứa Quân Hách cũng chẳng rõ lòng mình đang mang cảm giác gì, chỉ nói: “Nếu như người khác muốn làm thế này, nàng nhớ phải đẩy ra nhé.”

Kỷ Vân Hành nhìn hắn với ánh mắt đầy thắc mắc. Nàng muốn nói rằng người khác sẽ không ai làm giống như hắn cứ ngửi tới ngửi lui trên người nàng như một chú chó con, nhưng lại sợ rằng nói ra sẽ làm hắn không vui, đành im lặng không nói.

Hứa Quân Hách còn giải thích: “Là vì hai ta có quan hệ tốt nên mới có thể như vậy.”

Nói cứ như đang lừa kẻ ngốc, lời nói ra miệng nhẹ nhàng vô cùng, đổi là bất kỳ ai khác đều sẽ không tin, nhưng Kỷ Vân Hành vốn tín nhiệm Hứa Quân Hách lại gật đầu hết sức nghiêm túc: “Được.”

Hai người ngồi trên đệm cói một lúc lâu, mãi cho đến khi giày và tất của Kỷ Vân Hành đã hong khô, đôi chân đã ấm áp trở lại, lúc này nàng mới đứng lên đi giày vào: “Ta muốn đi tìm Chính Thiện đại sư.”

Hứa Quân Hách hỏi: “Năm nào nàng đến cũng không gặp được sao?”

Kỷ Vân Hành chầm chậm đứng dậy, vuốt phẳng lại nếp gấp nhăn nhúm trên quần áo, nàng cúi đầu, giọng điệu có vẻ mất mát: “Ừm, Chính Thiện đại sư không muốn gặp ta.”

Hứa Quân Hách nói: “Ta có thể giúp nàng gặp ông ấy.”

Kỷ Vân Hành ngẩng đầu lên, đôi mắt sáng ngời nhìn hắn.

“Nhưng việc này ta không thể giúp không công, nàng định báo đáp ta thế nào đây?” Hứa Quân Hách ngồi dưới đất, một chân co một chân duỗi ngả người về sau, dáng điệu thoải mái trông như một thiếu niên vô lo vô nghĩ.

Kỷ Vân Hành nghiêm túc suy nghĩ một lát: “Lương Học muốn ta làm gì?”

Những gì làm được nàng đều có thể làm, những gì không làm được cũng có thể thương lượng, dẫu sao trong mắt nàng Hứa Quân Hách chưa bao giờ là người hà khắc, nếu có thể giúp nàng gặp Chính Thiện đại sư, giao kèo gì nàng cũng thấy có lợi.

Suy cho cùng từ lúc mười tuổi nàng đã bắt đầu lên núi này mỗi dịp cuối năm, nhưng chưa từng gặp được Chính Thiện đại sư lần nào.

Hứa Quân Hách cũng từ từ đứng lên, làm bộ lơ đễnh suy tính một lúc rồi nói: “Ta vẫn chưa nghĩ ra, cho nàng nợ lại trước đó, đợi sau này ta nghĩ ra rồi sẽ tới tìm nàng đòi công.”

Nói xong, hắn đẩy cửa bước ra ngoài, gió tuyết bên ngoài ùa vào thổi tung mái tóc và áo bào của hắn.

Kỷ Vân Hành đứng trong phòng nhìn ra, màn trời yếu ớt tựa như phủ lên người hắn một tầng ánh sáng nhàn nhạt, càng làm nổi bật bóng dáng thẳng tắp của hắn.

Cũng không biết Hứa Quân Hách đã căn dặn điều gì với người bên ngoài, nói xong liền lùi một bước quay vào phòng trở tay đóng cửa lại, ánh mắt lập tức nhìn về phía nàng chứ không hề liếc qua vật gì khác.

Trong lòng Kỷ Vân Hành cũng hiểu được, chắc hẳn hắn đã cho người đi mời Chính Thiện đại sư đến, thế là nàng vội vàng đứng dậy, rót một chén trà nóng đưa đến cho hắn.

Hứa Quân Hách đón lấy chén trà, vừa định uống thì chợt nhớ ra điều gì đó, bèn phủ đầu: “Cái này không tính là trả công đâu nhé.”

Kỷ Vân Hành sửng sốt đáp lại: “Tất nhiên rồi.”

Lời nói này lại khiến hắn cảm thấy bản thân hơi nhỏ mọn, hắn thầm nghĩ rồi lại bật cười tự giễu.

Cả hai ngồi trong phòng chờ một khắc thì nghe tiếng gõ cửa.

Kỷ Vân Hành lập tức đứng dậy định mở cửa, nhưng Hứa Quân Hách ngồi bên cạnh lên tiếng nhanh hơn: “Vào đi.”

Sau đó cửa phòng bị đẩy ra, gió lạnh lập tức ùa vào, cảm giác lạnh thấu xương phả vào mặt.

Kỷ Vân Hành mở to mắt đầy hy vọng nhìn ra ngoài cửa, chỉ thấy một vị hòa thượng mặc áo bông màu nhạt bước vào.

Nhìn từ khuôn mặt và ngoại hình, người này không giống một hòa thượng.

Ông ấy có dáng người cao lớn, không biết là do lớp áo bông trên người quá dày hay thân thể vốn đã cường tráng mà khi đi vào phòng đã che khuất cả cửa. Trên mặt ông ấy có vài vết sẹo, nổi bật nhất là vết sẹo từ lông mày bên trái kéo dài đến má rồi xuống đến lỗ tai. Vết sẹo này dù có vẻ đã rất lâu năm nhưng vẫn gây cảm giác rợn người, khiến vẻ ngoài của ông ấy trở nên dữ dằn hơn cả.

Khuôn mặt ông ấy vẫn thản nhiên như thường, sau khi đi vào đã cúi người hành lễ: “Không biết Thái tôn Điện hạ tìm bần tăng là có điều chi chỉ dạy?”

Hứa Quân Hách còn chưa trả lời, Kỷ Vân Hành đã ngồi thẳng người dậy, hô to: “Chính Thiện đại sư!”

Kể từ khi vị hòa thượng này bước vào phòng, ánh mắt Kỷ Vân Hành vẫn nhìn chằm chằm vào ông ấy không rời khỏi, cho dù người này là hòa thượng nhưng nhìn chỉ khoảng hơn bốn mươi tuổi, là một người đàn ông đang ở độ trung niên.

Hơn nữa đây cũng là người mà tám năm liền nàng khao khát gặp mặt nhưng chưa từng thành công.

Hứa Quân Hách cau mày tỏ ra vẻ bất mãn, quay sang nói với Chính Thiện: “Ngồi xuống nói chuyện.”

Dù là người xuất gia cũng không thể làm trái lệnh Hoàng gia, ông ấy theo lời ngồi xuống đối diện, từ đầu đến giờ vẫn cụp mắt xuống, không hề nhìn Kỷ Vân Hành lần nào.

Kỷ Vân Hành không hề để ý đến thái độ lạnh nhạt của ông ấy, vội hỏi: “Đại sư có còn nhớ người tên Bùi Vận Minh hay không?”

Chính Thiện nhàn nhạt đáp lời: “Bần tăng không quen.”

Kỷ Vân Hành nghe vậy, lập tức trở nên sốt sắng, nói chuyện cũng nhanh hơn ngày thường: “Sao có thể không quen được? Đại sư suy nghĩ kỹ lại đi, năm đó mẹ ta thường dẫn ta đến chùa tìm ngài mà, sau đó ngài còn đến nhà ta nữa.”

“Là chuyện mười bốn năm trước, ở phủ nhà Kỷ gia tại khu ngoại ô Tây thành. Đêm ấy ta đã nhìn thấy ngài, ngài mặc quần áo màu đen, đội mũ vuông trên đầu, trên mặt ngài có vết sẹo, ta nhớ rõ mà…”

“Thí chủ, chuyện cũ từ mười mấy năm trước, e là bần tăng đã không còn nhớ rõ nữa.” Chính Thiện lên tiếng thản nhiên ngắt lời nàng, từ tốn nói: “Huống hồ bần tăng đã nhiều năm không xuống núi, không biết người thí chủ nói đến là ai. Nếu đã là chuyện cũ từ nhiều năm trước, thí chủ hà cớ gì phải xem như chấp niệm trong lòng, hãy cứ để quá khứ qua đi mới là buông bỏ chân chính.”

Kỷ Vân Hành như bị đả kích nặng nề, trong đôi mắt mở to hiện lên vẻ hoảng loạn, chỉ biết ngỡ ngàng nhìn về phía Chính Thiện.

Nàng không tin vào câu “không còn nhớ” mà Chính Thiện nói ra. Năm đó nàng chỉ mới sáu tuổi, đầu óc nàng lại ngốc như thế nhưng nàng vẫn chưa từng quên đi, cho đến bây giờ vẫn nhớ rõ mọi chuyện.

Chẳng lẽ thời gian đã lâu lắm rồi sao? Nhưng từ tám năm trước nàng đã bắt đầu lên núi tìm Chính Thiện, bị ông ấy từ chối không gặp ngay từ cửa chùa. Nếu như ông ấy thật sự đã quên mất, cũng sẽ không từ chối gặp nàng hết năm này tới năm khác.

Kỷ Vân Hành đè nén nỗi sốt ruột trong lòng, quay đầu lại nhìn về phía Hứa Quân Hách.

Rõ ràng Hứa Quân Hách không muốn can dự vào chuyện này. Hắn chỉ chống một tay lên trán, nhàn nhã uống trà, nhưng khi cảm nhận được ánh mắt của Kỷ Vân Hành đang nhìn đến mình, hắn lập tức quay sang nhìn về phía nàng.

Nếu nàng mở miệng cầu xin hắn giúp đỡ, hắn nhất định sẽ không thờ ơ đứng nhìn. Thế nhưng, Kỷ Vân Hành rõ ràng vẫn chưa có ý định ấy.

Nàng giơ tay nhấc bình trà bên cạnh Hứa Quân Hách lên rót cho Chính Thiện một chén trà rồi đẩy tới trước mặt ông ấy, hít sâu một hơi rồi mới nói: “Chính Thiện đại sư, hơn mười năm trước ngài đột ngột đến nhà ta vào đêm khuya để gặp mặt mẹ ta. Dù ta không biết hai người gặp mặt vì việc gì, nhưng ngay sau đêm đó, mẹ ta bị vu oan có tư tình với người khác. Bà bị thẩm vấn suốt nhiều ngày nhưng vẫn kiên quyết không nói ra người gặp gỡ đêm đó là ai, vì thế nên bị nhốt vào hậu viện. Suốt bốn năm sau đó, bà không hề bước chân ra khỏi tiểu viện lấy một lần, cho đến khi bà mắc bệnh nặng nằm liệt giường cũng không ai cứu chữa, cứ thế qua đời ngay trước mặt ta.”

Kỷ Vân Hành kể lại chuyện cũ của mẹ mình, dù đã cố giữ bình tĩnh nhưng không thể che giấu được nỗi nghẹn ngào trong lời nói, giọng điệu chậm rãi khiến người nghe cũng cảm thấy xót xa. Nàng nói tiếp: “Bà ấy mất đúng vào ngày này chín năm về trước.”

Nói đến đây, trên khuôn mặt bình tĩnh và lạnh nhạt của Chính Thiện cuối cùng cũng xuất hiện một vết nứt, ngón tay ông ấy khẽ run rẩy, như đã bị điều gì đó kích thích.

“Đại sư, ta tìm đến ngài không phải muốn ngài nhớ lại quá khứ, ta chỉ muốn biết rằng năm đó mẹ ta và ngài rốt cuộc đã gặp nhau vì chuyện gì.” Ánh mắt của Kỷ Vân Hành sáng rực như đuốc, giống như nàng đã nắm được thứ quan trọng đã ăn sâu trong lòng, hơi nóng phát ra sự kiên quyết đủ để thiêu đốt người khác: “Cho dù thời gian có trôi qua bao lâu, ta cũng phải trả lại sự trong sạch cho mẹ ta.”

Chính Thiện nhắm mắt lại, dường như muốn nén xuống những cảm xúc đang dâng trào.

Kỷ Vân Hành sợ rằng những lời mình vừa nói vẫn chưa đủ để làm Chính Thiện thay đổi ý định, bèn hạ thấp giọng hơn nữa: “Huống hồ hôm nay còn có Thái tôn Điện hạ ở đây, ngài ấy ghét nhất là bị lừa dối. Nếu Chính Thiện đại sư không nói sự thật sẽ bị ngài ấy tống vào ngục đấy.”

Hứa Quân Hách mấp máy môi, muốn hỏi nàng tại sao lại gán cho hắn cái mũ này, hắn có nói như vậy bao giờ đâu. Nhưng khi quay sang nhìn thấy ánh mắt cầu xin của Kỷ Vân Hành, hắn liền im lặng.

Cũng không biết Chính Thiện bị lời đe dọa kia hù dọa thật hay là vì bị những lời vừa rồi chạm đến nỗi lòng, ông ấy đã không còn giữ vẻ lạnh lùng nữa. Chính Thiện từ từ ngẩng đầu lên, ánh mắt nhìn về phía Kỷ Vân Hành.

Kỳ lạ là dù gương mặt ông ấy có hung dữ, nhưng ánh mắt lại vô cùng hiền từ, chầm chậm lên tiếng: “Vì sao thí chủ lại đến tay không?”

Kỷ Vân Hành nghe thấy câu hỏi này chợt sửng sốt, hỏi lại: “Đại sư muốn ta mang gì đến sao?”

Chính Thiện khẽ lắc đầu, chỉ nói: “Nếu như thí chủ muốn biết điều gì đó từ ta thì không nên đi tay không đến đây.”

Nói xong câu này, ông ấy lập tức đứng lên cúi người hành lễ với Hứa Quân Hách rồi cáo từ.

Kỷ Vân Hành vội vàng đứng dậy đuổi theo vài bước. Chính Thiện đi đến trước cửa bỗng khựng lại, nói thêm: “Nếu thí chủ mang đồ đến rồi thì có thể lên núi tìm bần tăng bất kỳ lúc nào.”

Dứt lời ông ấy liền rời đi ngay, để lại Kỷ Vân Hành đứng lặng người trong gió tuyết lạnh buốt, ngơ ngác nhìn theo bóng lưng ông.

Hứa Quân Hách vẫn ngồi yên tại chỗ, ngón tay thon dài khẽ gõ nhẹ lên bàn, đôi mắt cụp xuống dường như đang chìm vào suy nghĩ.

Mãi cho đến khi Kỷ Vân Hành đóng cửa quay vào, vừa phủi bông tuyết trên người vừa hỏi: “Lương Học, ngài nói xem có phải lần tới lên núi ta nên mang theo mấy món đại sư thích ăn không?”

Hứa Quân Hách không đáp, vẫn còn đắm chìm trong dòng suy nghĩ của mình.

Kỷ Vân Hành bèn đưa hai tay chống cằm, đôi vai rủ xuống đầy thất vọng, lẩm bẩm: “Nhưng mà trước đây ta cũng đã mang đồ ăn lên núi, nào là bánh ngọt, trái cây, thậm chí cả y phục ta cũng đem tới rồi, vậy mà Chính Thiện đại sư vẫn không chịu gặp ta. Năm nay ta không mang gì đến, ông ấy lại nói ta đến tay không, rốt cuộc là vì sao chứ?”

Hứa Quân Hách lúc này như bừng tỉnh khỏi dòng suy nghĩ, cũng không biết hắn đã đột ngột nghĩ thông suốt điều gì mà khóe môi lại cong lên cười mỉm, trả lời nàng: “Bởi vì những thứ nàng mang đến không phải là thứ ông ấy muốn.”

Kỷ Vân Hành lẩm bẩm: “Nhưng nếu ông ấy không nói, sao ta biết được ông ấy muốn gì chứ?”

Hứa Quân Hách nhìn nàng, biết ngay nàng vẫn chưa hiểu ra ý nghĩa thật sự của từ “muốn” ở đây.

“Kỷ Vân Hành, nàng thật ngốc quá.” Hắn gõ nhẹ lên trán nàng, mỉm cười tỏ ra ghét bỏ: “Thứ mà Chính Thiện đại sư muốn không phải là thứ ông ấy thích, mà là thứ mẹ nàng để lại cho nàng.”

Kỷ Vân Hành mơ màng, chưa kịp hiểu rõ lời hắn.

Hứa Quân Hách bèn nhúng ngón tay vào nước trà trong chén, bắt đầu viết chữ lên bàn.

Kỷ Vân Hành thấy hắn không nói nữa, thế là nàng tò mò ghé sát vào để nhìn, cái đầu nhỏ gần như chạm vào sườn mặt hắn, vài sợi tóc lòa xòa còn lướt qua mặt khiến hắn có chút rung động.

Nàng cúi xuống nhìn, chỉ thấy Hứa Quân Hách viết trên bàn:

“Trăng nghiêng cầu nhỏ thả hồn,

Hoa vườn phảng phất ngát hương lối này.

Cửa son, song gấm ngất ngây,”

Kỷ Vân Hành đã quá quen thuộc với câu thơ này. Năm đó trước khi Bùi Vận Minh qua đời, bà đã từng cố gắng gượng dậy cầm bút để viết lại câu thơ ấy, sau đó bà nằm xuống giường và không còn sức để đứng lên nữa.

Đó là thứ cuối cùng mà Bùi Vận Minh để lại cho Kỷ Vân Hành.

Vì thế Kỷ Vân Hành đã bọc lại và treo trên tường trong phòng ngủ của mình.

Tên của nàng cũng bắt nguồn từ câu thơ này. Từ nhỏ Kỷ Vân Hành vẫn luôn nghĩ rằng mẹ nàng rất thích câu thơ này, thế nên vào năm đó trước lúc qua đời, bà mới cố chống đỡ thân thể bệnh tật gắng gượng ngồi dậy viết lại nó. Nhưng hôm nay sau khi nghe những lời Hứa Quân Hách nói, lại nhìn thấy hắn viết lại câu thơ, nàng đột nhiên cảm thấy bối rối.

Nàng hơi hoảng hồn, trong miệng cũng lẩm bẩm theo: “Chỉ xuân mới biết chốn này.”

Hứa Quân Hách rút tay lại, vệt nước trên bàn từ từ biến mất. Ánh mắt hắn sáng lấp lánh nhìn thẳng về phía nàng: “Mẹ nàng đã để lại cho nàng một thứ, nhưng chỉ có mùa xuân mới biết nó ở đâu.”

Trước đây khi Hứa Quân Hách trèo tường vào tiểu viện của Kỷ Vân Hành, ngoài việc muốn xem người cháu ngoại của Bùi Hàn Tùng sống lẻ loi khổ sở thế nào, hắn còn có một lý do quan trọng hơn.

Hắn muốn biết liệu sau khi Bùi Vận Minh qua đời, bà có để lại manh mối gì cho Kỷ Vân Hành hay không.

Bùi Vận Minh là huyết mạch duy nhất của Bùi gia còn tồn tại ở Linh Châu sau khi nhà họ gặp biến cố. Bà từng là tài nữ nổi danh khắp Linh Châu. Theo lời đồn đãi rằng, từ nhỏ bà đã thông minh nhanh nhạy, lại là con gái duy nhất của Bùi Hàn Tùng nên rất được các bậc trưởng bối trong nhà yêu thương che chở. Nhưng sau khi Bùi gia gặp biến cố, bà chịu đả kích lớn, lòng mang u uất dẫn đến sinh non, thủ hiếu suốt ba năm.

Có lẽ vì lớn lên ở Kinh thành được nghe kể về phong thái và câu chuyện trưởng thành của Bùi Hàn Tùng quá đỗi ly kỳ, Hứa Quân Hách luôn cảm thấy con gái duy nhất của ông ấy cũng không phải nhân vật đơn giản.

Cho nên sau khi đến tiểu viện này, hắn chẳng bận tâm quá nhiều đến Kỷ Vân Hành vừa hèn nhát vừa yếu đuối kia, chỉ muốn tìm thấy chút manh mối mà Bùi Vận Minh có thể để lại trong mảnh đất nhỏ này. Nhưng hắn không ngờ bà đã hoàn toàn không muốn tham gia vào những chuyện ấy, hoặc có lẽ lúc qua đời bà đã mang mọi thứ theo, dọn dẹp sạch sẽ mọi dấu vết, đến nỗi hắn chẳng tìm thấy bất kỳ thứ gì, ngoài chiếc hộp nhỏ giấu tiền dưới gầm giường của Kỷ Vân Hành.

Kỷ Vân Hành từng nói câu thơ treo trên tường là do mẹ nàng tự tay viết ra. Trước đó, Hứa Quân Hách cũng đã nghiên cứu câu thơ này nhưng chẳng tìm ra manh mối nào. Mà nay tình cờ gặp được Kỷ Vân Hành trong chùa, vô tình nghe được câu chuyện năm xưa, cuối cùng hắn mới xâu chuỗi mọi thứ lại với nhau.

Câu thơ mà Bùi Vận Minh để lại thực ra là chỉ dẫn đến một địa điểm.

Bà muốn nói với Kỷ Vân Hành rằng bà đã giấu thứ ấy ở nơi mà chỉ mùa xuân mới biết.

Nhưng bấy nhiêu năm trôi qua Kỷ Vân Hành vẫn không thể gặp mặt Chính Thiện đại sư, đương nhiên không thể giải mã ý nghĩa của câu thơ ấy.

“Vì sao mẹ ta không nói thẳng cho ta biết?” Kỷ Vân Hành ngây ngốc hỏi.

Hứa Quân Hách yên lặng nhìn nàng, đột nhiên hắn có thể hiểu được tâm tình của Bùi Vận Minh lúc ấy.

Lúc Kỷ Vân Hành còn nhỏ, chắc chắn nàng còn ngốc nghếch và yếu đuối hơn cả bây giờ.

Lúc Bùi Vận Minh qua đời, có lẽ bà đã không cam lòng biết bao. Bà còn chưa làm sáng tỏ chân tướng việc Bùi gia bị hãm hại, còn chưa thể rửa sạch oan khuất cho Bùi gia thì đã phải để lại đứa con khờ khạo bệnh tật một mình xuống suối vàng.

Bùi Vận Minh vừa hy vọng con gái có thể khỏe mạnh lớn lên sống cuộc đời bình an, nhưng cũng mong nàng có thể tiếp tục hoàn thành việc mà bà chưa kịp thực hiện, rửa sạch oan khuất cho Bùi gia.

Vì thế nên bà để lại một câu đố, để Kỷ Vân Hành tự mình đưa ra lựa chọn.

“Chuyện này rất nguy hiểm, nàng tham gia vào đó có thể sẽ mất mạng.” Hứa Quân Hách nghiêm túc nhìn nàng, rõ ràng không phải đang đe dọa.

Kỷ Vân Hành thấy hắn không phải cố ý trêu đùa mình, trái tim nàng bỗng chùng xuống, mím môi không nói thành lời.

“Ta có thể giúp nàng điều tra rõ chân tướng năm đó trả lại trong sạch cho mẹ nàng, nàng đừng tham gia vào.” Hứa Quân Hách nói.

“Không được.” Kỷ Vân Hành từ chối rất nhanh, gần như không cần suy nghĩ: “Ta muốn tự mình hoàn thành.”

Kỷ Vân Hành luôn có sự cố chấp kỳ lạ trong những việc liên quan đến bản thân, giống như việc nàng đều lên núi vào ngày ba mươi tháng Chạp mỗi năm, chưa bao giờ vắng mặt.

“Trước đây ta chẳng biết gì cả, trong lòng chỉ đau đáu một việc cứ nhớ mãi từ năm này qua năm khác, đó là rửa sạch oan khuất cho mẹ ta.” Kỷ Vân Hành thấp giọng nói: “Nhưng sau này ta biết được chuyện của ông ngoại, giờ đây họ đều đã mất chỉ bỏ lại mình ta, ta không thể sống mà cứ giả vờ như không biết gì được.”

Nàng bỗng nhiên đưa tay ra nắm lấy tay Hứa Quân Hách rồi dùng sức siết chặt, trong mắt đầy vẻ mong mỏi như hy vọng hắn hiểu được tâm ý của nàng: “Lương Học, ta không phải muốn đánh cược mạng sống chỉ để chứng tỏ mình không phải kẻ ngốc trong mắt họ. Ta là người mang dòng máu của Bùi gia, có những việc dù phải chết ta cũng muốn làm.”

Biết rõ rằng tham dự vào chuyện này sẽ nguy hiểm, nhưng bảo nàng giao lại cho Hứa Quân Hách giải quyết thay, nàng không thể làm được.

Đây là chuyện của Bùi gia, là chuyện của mẹ nàng Bùi Vận Minh, cũng là chuyện của Kỷ Vân Hành nàng.

Hứa Quân Hách không nói gì thêm nữa, ánh mắt dừng lại trên khuôn mặt nàng rất lâu, cuối cùng chỉ cong ngón tay nắm lấy tay nàng trong tay mình, đến khi nàng giật tay ra ba lần mới chịu buông.

Đợi tuyết rơi bớt, hai người mới rời khỏi chùa xuống núi.

Kỷ Vân Hành đã chờ đợi trong suốt tám năm qua, không ngại thêm một thời gian nữa. Năm đó, mẹ nàng rốt cuộc đã để lại thứ gì mà phải đợi xuân đến mới có thể biết được.

Sau khi trở về nhà, nàng uống một bát canh gừng, sau đó an phận ở nhà không ra ngoài nữa.

Đêm ba mươi Tết, người người nhà nhà ở Linh Châu đều hân hoan ăn mừng chuẩn bị chào đón năm mới, nhưng Kỷ gia lại quạnh quẽ vô cùng.

Mỗi năm vào ngày này, Kỷ lão gia đều tổ chức yến tiệc cuối năm rất lớn, mời các huynh đệ trong gia tộc cùng đến phủ tụ họp dùng bữa cơm tất niên.

Nhưng năm nay Linh Châu xảy ra nhiều chuyện chấn động, Kỷ gia cũng không ngoại lệ. Kỷ Dục ngồi tù ba tháng, sau khi ra khỏi đó không rõ vì sao thân thể suy kiệt, bây giờ chỉ sống dựa vào thuốc thang. Vương Huệ từng là chủ mẫu năm xưa nay đã bị tước hết quyền lực, chỉ quanh quẩn trong viện để chăm sóc trượng phu lâm bệnh nặng, con trai con gái của bà ta cũng hiếm khi lộ mặt ở phủ.

Mấy người đệ đệ của Kỷ Dục từng gửi thư thậm chí nhiều lần đến tận nhà, nhưng lần nào cũng bị Tô Y phái người đuổi đi. Vụ này không thể kiện cáo, đám người Kỷ gia dù có quậy đến tận nha môn cũng không ai đứng ra phân xử giúp họ, bởi lẽ Hứa Quân Hách đã đánh tiếng dặn dò từ trước.

Vào ngày này Kỷ Vân Hành càng không có tâm trạng nào để chúc mừng, bởi vì hôm nay là ngày giỗ của mẹ nàng.

Đợi đến khi tuyết đêm chỉ còn lác đác, nàng và Tô Y mới ra ngoài đi đến mộ phần của Bùi Vận Minh. Hai người quỳ trước mộ đốt giấy tiền, nói một hồi rồi khóc một hồi, trong lời nói đầy rẫy những lời ly biệt và nhớ thương suốt bao năm qua.

Sau khi trở về tiểu viện, nàng và Tô Y cùng ăn bữa cơm, rửa mặt rồi lên giường đi ngủ, không hề có ý định chào đón năm mới.

Đối với Kỷ Vân Hành, những năm tháng trong đời nàng chỉ có hai loại: một là năm mới có mẹ bên cạnh, hai là năm mới không còn mẹ, thế nên năm nào cũng đều như nhau.

Năm Hi Bình thứ bốn mươi ba.

Vừa tiễn năm cũ, đầu năm mới đã đụng phải một sự kiện lớn động trời.

Trịnh Chử Quy vì tư lợi mà tạo ra một tổ chức buôn bán trẻ em khổng lồ, bám trụ ở Du Dương suốt hơn hai mươi năm. Cuối năm vừa rồi, không biết Hoàng thái tôn đã làm cách nào mà điều tra ra chuyện này, đã giải cứu được hơn bảy mươi bé gái bị giam giữ ở Linh Châu ngay trong đêm.

Đây cũng là nguyên nhân thực sự khiến Trịnh Chử Quy bị giam vào ngục.

Tin tức này vừa lan ra, Linh Châu và Kinh thành đều dấy lên sóng to gió lớn. Trịnh Chử Quy là quan Nhị phẩm trong triều, lại là Hình bộ Thượng thư nắm giữ toàn bộ các vụ án trong thiên hạ, không ngờ sau lưng lại là kẻ nhẫn tâm và độc ác như vậy.

Sau khi Hứa Quân Hách gửi tin tức đến Kinh thành, Hoàng Đế nổi trận lôi đình. Nghe nói trong triều còn có kẻ gan dạ không sợ chết đứng ra cầu tình thay cho Trịnh Chử Quy, nói rằng trong chuyện này có thể có oan khuất và ẩn tình, ngay lập tức đã bị Hoàng Đế chém đầu tại chỗ, máu tươi bắn xa ba thước.

Kể từ đó, không còn ai dám xin tội cho Trịnh Chử Quy nữa. Đại lý tự tiếp nhận vụ án này, bắt đầu điều tra toàn diện cả gia tộc họ Trịnh, kéo theo hơn ba mươi quan viên cùng bị cách chức nhốt vào đại lao.

Sự việc này còn nghiêm trọng hơn cả vụ tham nhũng của Thứ sử Linh Châu trước đó, khiến mọi người trong triều đều cảm thấy bất an, trong lòng ai nấy đều thấu hiểu rằng triều đình sắp phải trải qua một đợt thanh trừng đẫm máu.

Ở Linh Châu, nơi cách xa ngàn dặm cũng chẳng yên bình.

Ngày mười lăm tháng Giêng vốn là Tết Nguyên Tiêu, khi đèn hoa ngập tràn trên đường phố. Kỷ Vân Hành lên núi tìm Hứa Quân Hách chơi, nhưng lại không gặp được hắn. Nàng đợi trong hành cung suốt hai canh giờ nhưng không thấy hắn quay về, thậm chí còn ngủ một giấc trên chiếc ghế mềm trong tẩm cung của hắn, sau đó đành tiếc nuối xuống núi.

Hôm sau lúc Hứa Quân Hách đến tìm nàng, mang theo một tin tức giật gân.

“Trịnh Chử Quy chết rồi.” Hứa Quân Hách như chưa chợp mắt cả đêm, trong mắt còn có tơ máu.

Hắn ngồi trên chiếc ghế mây của Kỷ Vân Hành, đôi chân thon dài bắt chéo thong thả đong đưa ghế.

“Chết rồi?” Kỷ Vân Hành kinh ngạc trợn tròn mắt: “Chết, chết thế nào?”

“Trúng độc mà chết.” Hứa Quân Hách nhắm mắt lại, đau đầu nhíu mày với vẻ mệt mỏi: “Cũng không rõ đã hạ độc bằng cách nào, thức ăn và nước uống đều đã được kiểm tra, không có độc.”

Kỷ Vân Hành thấy hắn rất phiền não, bèn vào phòng ôm một tấm chăn dày rồi cẩn thận đắp lên người hắn: “Trông ngài rất mệt mỏi, ngủ ở đây một lát đi.”

Hứa Quân Hách trầm giọng “ừm” một tiếng, hắn thật sự cảm thấy mệt mỏi nên cũng không từ chối.

Kỷ Vân Hành ngồi bên cạnh suy nghĩ một lát, lại nói: “Ta nhớ dì Tình từng nói bà ấy rất am hiểu độc thuật, có lẽ nhờ bà ấy xem thử thì sẽ có thể phát hiện được thứ độc đã giết chết Trịnh Chử Quy là gì.”

Hứa Quân Hách nghe xong trầm mặc hồi lâu, sau đó mới thở dài một hơi: “Bà ấy đã từ biệt về quê trước năm mới rồi, e rằng sẽ không trở lại Linh Châu nữa.”


Bình luận

Bình luận về bài viết này