Khương Ly mặc áo váy gấm thêu hoa mộc lan xếp tầng màu ngọc, khoác áo choàng lụa màu trắng xanh thêu hình tre và mây, ngồi trầm tĩnh đoan trang trong xe ngựa. Tiết Kỳ ngồi đối diện nàng, nhìn thế nào cũng thấy vừa ý: “Linh nhi tuy lớn lên trong giang hồ nhưng khí chất trên người lại không khác gì các cô nương thế gia lớn lên ở thành Trường An. Sư phụ của con đã dạy dỗ con rất tốt, tiếc là bà ấy đã lui về ở ẩn dưỡng bệnh, nếu không chúng ta nên đón bà ấy đến thành Trường An hưởng phúc.”

Khương Ly khẽ mỉm cười: “Sư phụ của con tuổi đã cao, cũng không quen với sự phồn hoa của thành Trường An, cha không cần phải bận tâm đâu.”

Tiết Kỳ vốn cũng không có mấy phần thật lòng, nghe vậy thì chỉ cười không nhắc đến nữa, ông ta vén rèm cửa sổ nhìn ra ngoài, thấy cổng Chu Tước đã thấp thoáng ở phía xa, ông ta liền nói: “Mấy năm nay cô của con ở Đông cung không dễ dàng gì, lát nữa gặp bà ấy phải giữ gìn quy củ.”

Khương Ly tỏ vẻ nghi hoặc: “Cô là Thái tử phi, là chủ nhân tương lai của Trung cung, sao lại không dễ dàng?”

Người giang hồ sao hiểu được chuyện thua thiệt trong Thiên gia, Tiết Kỳ không lấy làm lạ, giải thích: “Tất cả chuyện này đều phải nói từ chuyện con cái, cô của con 16 năm trước gả cho Thái tử Điện hạ, năm đó liền có thai nhưng 1 năm sau lại sinh ra một đứa con gái. Tuy đã sớm được phong làm An Lạc Quận chúa nhưng con gái ở Thiên gia thì có ích gì? Sau đó lại qua 3 năm, Thái tử phi từng có thai một lần, nhưng khi mang thai được 3 tháng thì không giữ được con mà còn làm tổn thương thân thể, mấy năm nay không thể có con được nữa.”

Khương Ly lộ vẻ tiếc nuối, đáp lại: “Nhưng ngôi vị Thái tử phi của cô không hề bị ảnh hưởng, chỉ cần Thái tử Điện hạ và cô còn ân ái thì chẳng lẽ lại có người dám chỉ trích cô sao?”

Tiết Kỳ cười khổ: “Đứa nhỏ ngốc này, trong Hoàng gia làm gì có tình cảm nào mà không thay đổi? Thái tử Điện hạ… cũng không thể chỉ có một mình cô của con. Bây giờ ngoài một vị ở Lương viện không có con cái được sủng ái ra thì còn có một vị Trắc phi tên Ninh Dao là đối thủ lớn nhất của cô cô con.”

“Vị Ninh Trắc phi này là con gái của Binh bộ Thượng thư Ninh Tư Viễn. Nàng ta vào Đông cung muộn hơn cô con 2 năm nhưng lại một lần sinh được con trai, hạ sinh Hoàng trưởng tôn Lý Dực. Vị Hoàng trưởng tôn này có thiên phú tuyệt vời, 3 tuổi học văn, 5 tuổi biết làm thơ, năm đó vô cùng được Bệ hạ sủng ái, vừa tròn 5 tuổi đã được lập làm Hoàng thái tôn. Bệ hạ tại vị đã lâu mà tinh thần vẫn minh mẫn, Thái tử lúc đó cũng đã được lập hơn 10 năm, Hoàng thái tôn lại được sủng ái nên địa vị của Thái tử càng thêm vững chắc…”

Nói đến đây, Tiết Kỳ ẩn ý thở dài một tiếng: “Nhưng ngày vui quá ngắn ngủi. Sau đó một trận đại biến, Hoàng thái tôn qua đời, nếu như vậy thì cũng thôi đi, oái oăm thay trước khi Hoàng thái tôn qua đời Ninh Trắc phi còn sinh hạ được một đứa con trai là Lý Cẩn. Đứa con thứ này tuy kém xa thiên phú của Hoàng thái tôn nhưng mấy năm nay Bệ hạ vì muốn bù đắp nỗi tiếc thương Hoàng thái tôn mà vô cùng sủng ái hắn nên đã sớm phong làm Tuyên Thành Quận vương, còn thường xuyên cho hắn đi theo hầu bên cạnh, đích thân dạy hắn cưỡi ngựa bắn cung, so với Hoàng thái tôn năm đó cũng không hề thua kém. Người ta đều nói một người đắc đạo gà chó cũng lên trời, chính vì hai đứa con trai này mà nhà họ Ninh được Bệ hạ coi trọng. Ninh Trắc phi cũng vô cùng được Thái tử yêu chiều, mấy năm qua cô của con mang danh hiền đức ngồi vững ở vị trí Thái tử phi nhưng tương lai thế nào cũng khó nói.”

Tiết Kỳ nói rồi không cười nổi nữa: “Hôm nay con vào Đông cung ngoài việc biết được tình cảnh của cô con, nếu gặp phải Thái tử Điện hạ và Ninh Trắc phi thì cũng cần phải cẩn trọng giữ lễ. Hơn nữa, tất cả những gì liên quan đến Hoàng thái tôn đều là điều cấm kỵ, không được nói không được hỏi, cho dù nghe thấy người khác bàn tán cũng tuyệt đối không được xen vào.”

Khương Ly lộ ra vẻ nghi hoặc: “Đều là điều cấm kỵ? Là vì nỗi đau mất con của Thái tử Điện hạ và Ninh Trắc phi sao?”

Thấy ánh mắt nàng trong veo không chút tạp niệm, Tiết Kỳ liền nói thẳng: “Không chỉ như vậy, còn vì năm đó Hoàng thái tôn không phải bị bệnh chết, mà là bị người ta hại chết…”

Khương Ly tỏ vẻ kinh ngạc, Tiết Kỳ tiếp tục nói: “6 năm trước, tức là năm Cảnh Đức thứ 33, thành Trường An xảy ra một trận ôn dịch kéo dài nửa năm. Lúc đó trong thành Trường An chết mấy ngàn người, trong ngoài Hoàng cung canh phòng nghiêm ngặt. Hoàng thái tôn ở Đông cung lại không biết làm sao mà mắc bệnh, để chữa bệnh cho ngài ấy, các Ngự y của Thượng dược cục và Thái y thự đều thường trực ở Đông cung. Nhưng dùng thuốc 2 tháng thấy có đỡ hơn mà Hoàng thái tôn lại đột ngột qua đời vào đêm Giao Thừa năm đó. Bệ hạ và Thái tử vô cùng tức giận, nhất thời những người được lợi trong chuyện này đều trở thành đối tượng bị nghi ngờ.”

Khương Ly nghiêm túc nói: “Người đứng mũi chịu sào chính là cô sao?”

Tiết Kỳ gật đầu: “Cô của con, còn có Túc Vương Điện hạ không mấy hòa thuận với Thái tử Điện hạ, thậm chí cả những cung nữ thái giám trong Đông cung bị trách phạt vì hầu hạ không chu đáo cũng bị nghi ngờ ít nhiều. Nhưng may mắn là sau khi điều tra kỹ lưỡng đã phát hiện ra là Quảng An Bá Ngụy Giai, lúc đó đang là Thái y lệnh đã dùng sai cách chữa trị khiến Thái tôn Điện hạ qua đời.”

Khương Ly nghi hoặc hỏi: “Dùng sai cách chữa trị?”

Tiết Kỳ gật đầu: “Con là người hành y, hẳn biết rằng dù bệnh tình tương tự nhưng cách chữa trị cho từng bệnh nhân lại khác nhau. Mà vị Quảng An Bá này có một môn châm pháp bí truyền tên là ‘Phục Hy Cửu Châm’. Bộ châm pháp này biến hóa khôn lường, là tuyệt kỹ của nhà họ Ngụy, mà một trong những y lý quan trọng nhất chính là ngoài việc thay đổi tùy theo bệnh tình của bệnh nhân thì châm pháp này còn thay đổi theo mùa.”

Thấy Khương Ly mày mắt nghiêm nghị, dường như nghe rất chăm chú, Tiết Kỳ liền nói tiếp: “Cha không hiểu y đạo, nhưng ý đại khái rằng cùng một căn bệnh, châm pháp dùng vào mùa xuân thì mùa đông không thể dùng, dùng không đúng thậm chí có thể mất mạng. Mà cách ông ta châm cứu vào huyệt lại rất hiểm hóc kỳ lạ, thậm chí còn trái ngược với y đạo thông thường, cũng vì vậy mà người ngoài rất khó học được tuyệt kỹ này. Lúc đó thuốc cho Hoàng thái tôn dùng là do mọi người hội chẩn, nhưng châm cứu lại là một mình ông ta làm. Sau khi xảy ra chuyện, tất cả Ngự y đều bị cấm túc điều tra nghiêm ngặt, vốn dĩ người ngoài cũng không chắc chắn châm pháp của ông ta có gì sai sót. Nhưng may mắn thay, lúc đó không chỉ có một mình ông ta biết Phục Hy Cửu Châm mà một tiểu đồ đệ của ông ta cũng biết.”

Hơi thở Khương Ly hơi ngưng lại, Tiết Kỳ than thở: “Tiểu đồ đệ đó là do phu nhân của ông ta nhận nuôi về, nghe nói năm đó phu nhân của ông ta rất muốn có một đứa con gái, nhưng cũng bị sảy thai khi tháng còn nhỏ, cùng năm đó gặp được cô bé mồ côi kia nên liền nhận nuôi về dạy y thuật. Sau này bà ấy rất thích tính tình của cô bé mồ côi kia nên hai người liền nhận làm con gái nuôi cầu mong con cái đủ đầy. Lúc đó y thuật của cô bé mồ côi đó đã có chút thành tựu rồi, cũng biết chút y lý của Phục Hy Cửu Châm. Khi sự việc xảy ra, con bé đó đang theo dõi bệnh cũ của Hoàng hậu nương nương. Khi bị gọi đến tra hỏi thì không biết Đông cung đã xảy ra đại loạn thế nào nên cũng hỏi gì thì nói nấy, chỉ nghĩ rằng Bệ hạ đang khảo sát y thuật của mình.”

Tiết Kỳ chế nhạo nói: “Cùng một y lý nhưng lời tiểu đồ đệ đó nói lại là một phương pháp châm cứu hoàn toàn khác. Các Ngự y khác cùng nhau bàn bạc, phát hiện ra đêm đó Quảng An Bá châm cứu dường như cố ý bỏ qua mấy kết luận mà bọn họ đã hội chẩn trước đó, suy nghĩ kỹ lại, đó chẳng phải là do Quảng An Bá quá khích tham công mà dùng cách mạo hiểm nên mới hại chết Hoàng thái tôn sao?”

“Như vậy sự thật đã rõ ràng, cả nhà Quảng An Bá bị tống giam trị tội, cô của con và Túc Vương cũng được chứng minh trong sạch. Nhưng Quảng An Bá ở trong ngục lại không nhận tội, còn nói mình bị người ta hãm hại, bịa đặt ra bệnh án hoàn toàn không tồn tại. Ninh Trắc phi là mẹ của Thái tôn Điện hạ cũng không tin Quảng An Bá chưa từng lỡ tay lại có thể vô cớ hại chết con mình, năm đó bà ta đã nghiêm khắc tố cáo Quảng An Bá nhất định là do người khác sai khiến, chỉ là không tìm được chứng cứ. Sau đó sự việc cũng chìm vào quên lãng khi cả nhà Quảng An Bá bị xử trảm, nhưng khúc mắc này cũng bị chôn sâu. Bao nhiêu năm qua, bà ta và cô của con ngoài mặt thì hòa nhã, nhưng đã âm thầm đối đầu nhau nhiều lần, vì vậy con gặp bà ta phải hết sức cẩn thận.”

Khương Ly kinh ngạc hỏi: “Vậy Quảng An Bá rốt cuộc có phải bị người khác sai khiến không ạ?”

Tiết Kỳ khẽ “chậc” một tiếng, phủ nhận: “Đương nhiên là không rồi, vụ án năm đó là do cha cùng Tam Pháp Ty đồng thẩm, Quảng An Bá đó vẫn luôn kêu oan, nói là bị hãm hại, nhưng không khai ra bất kỳ ai…”

Khương Ly lại hỏi: “Vậy lỡ như lời ông ấy nói không phải là giả thì sao?”

Tiết Kỳ sa sầm mặt: “Con bé này, có ai gây ra họa lớn tày trời như vậy mà còn tự thừa nhận sao? Cả nhà Bá phủ của bọn họ 43 người đấy, trọng hình tru di tam tộc, con nói ông ta có dám hé răng không?”

Mắt ông ta nheo lại, lạnh giọng nói: “Cái chết của Thái tôn Điện hạ cũng là tâm bệnh của Bệ hạ, ai dám dính dáng vào chứ? Huống hồ vụ án năm đó đã đóng đinh rồi, đồ đệ của ông ta lúc đó cũng không hề biết chuyện ở Đông cung, lời nó nói chẳng lẽ còn có thể là giả sao? Có lời khai này cộng thêm các Ngự y khác trong Thái y thự nói tính tình ông ta thanh cao ngạo mạn, xưa nay thích đi đường hiểm cùng với bệnh án chẩn đoán 3 tháng qua và các nhân chứng vật chứng khác, tóm lại tội của Quảng An Bá không thể chối cãi được, chính là do ông ta châm cứu sai.”

Tiết Kỳ nói chắc như đinh đóng cột, nói tiếp: “Cha nói những điều này với con là vì muốn con không phạm phải sai lầm. Vụ án năm đó đã đổ hết lên đầu Quảng An Bá, những gì con vừa hỏi nói với phụ thân thì cũng được, nhưng đừng nói lung tung với người khác. Vì lý do của cô con, lập trường của nhà họ Tiết cũng từng bị nghi ngờ cho nên con đặc biệt không được nói sai.”

Những đốt ngón tay của Khương Ly giấu trong tay áo vẫn nắm chặt lại, trên mặt vẫn giữ vẻ bình tĩnh: “Vâng, nữ nhi hiểu rồi.”

Tiết Kỳ thở hắt ra một hơi, chỉ cảm thấy đứa con gái này bên ngoài trông thì dịu dàng giữ lễ, nhưng thỉnh thoảng lại lộ ra vài phần ngang bướng. Dường như vẻ quy củ dịu dàng này chỉ là lớp ngụy trang của nàng. Tiết Kỳ nhìn kỹ Khương Ly một lúc, thấy đôi mắt nàng trong veo đầy vẻ thản nhiên, ông ta đành phải quy kết sự ngang bướng này là do nàng lớn lên ở giang hồ, trong cốt cách có nhiều phần phóng khoáng.

Khi xe ngựa vừa dừng lại ở cổng Chu Tước đã có tiểu thái giám Đông cung đứng đợi bên ngoài, thấy hai người liền bước nhanh tới đón: “Bái kiến Trung thừa đại nhân, bái kiến Đại tiểu thư, xin mời theo tiểu nhân…”

Tiểu thái giám dẫn đường phía trước, Khương Ly đi theo sau Tiết Kỳ. Từ cổng Chu Tước bước vào nội cung rồi đi bộ dọc theo con đường dài trong cung khoảng một khắc đồng hồ mới đến cổng Gia Phúc, lại qua cổng Sùng Minh, Gia Đức rồi đi dọc theo hành lang cung điện phía Đông điện Gia Đức vào cổng Sùng Giáo, đi thẳng về hướng Bắc rồi lại đi bộ thêm một khắc đồng hồ nữa mới đến Cảnh Nghi cung, nơi ở của Thái tử phi Tiết Lan Thời.

Cảnh Nghi cung ở phía Đông Trữ cung, điện các được chạm trổ tranh vẽ, trong điện rèm châu gấm vóc. Khương Ly vừa vào chính điện đã thấy trên các kệ nhiều tầng bày biện lộn xộn mấy chậu lan u, cả phòng thoang thoảng hương thơm dễ chịu. Thái tử phi Tiết Lan Thời và An Lạc Quận chúa Lý Yên đang ngồi bên chiếc giường quý phi dưới cửa sổ phía Tây, tay cầm kéo đồng tỉa cành hoa mặc lan đang nở rộ.

Tiểu nội thị tiến lên thông báo: “Thái tử phi nương nương, Trung thừa đại nhân và Đại tiểu thư đến rồi.”

Tiết Lan Thời đã 36 tuổi, hôm nay búi tóc cao như cánh chim kinh hồng, cài trâm ngọc châu lấp lánh tô điểm, khi quay đầu nhìn lại mới thấy trên mặt bà ấy thoa phấn lộng lẫy, đôi mày như vẽ, chiếc váy cung đình màu đỏ thẫm thêu hoa mẫu đơn nở rộ càng tôn lên vẻ khoan thai diễm lệ. Khóe môi bà ấy nở nụ cười nhạt, nhưng ánh mắt lại nhìn Khương Ly rất kỹ, thấy Khương Ly hành lễ xong mới khẽ cụp mắt xuống, bà ấy mỉm cười nói: “Lễ nghi tốt lắm, Yên nhi đã nhắc đến con mấy ngày rồi, con đến bên cạnh bổn cung đi.”

Tiết Kỳ khoanh tay đứng một bên: “Để Thái tử phi nhìn kỹ con.”

Khương Ly nghe lời tiến lại gần, lúc này An Lạc Quận chúa đứng dậy trước, nàng ấy buộc tóc kiểu tóc đuôi ngựa rủ xuống, mặc áo khoác màu xanh lá cây thêu hoa văn chuỗi hạt phối với váy màu đỏ vàng xen kẽ và váy lụa sa màu xanh da trời thêu hoa văn bồ đào, trên eo thắt một chiếc đai làm bằng ngọc trai và hoa cài xâu chuỗi lại, khi đi lại ánh sáng đá quý lấp lánh. Nàng ấy mỉm cười, tò mò đi vòng quanh Khương Ly nửa vòng như đang chiêm ngưỡng một món đồ mới lạ.

Tiết Lan Thời đặt kéo bạc xuống: “Lớn lên ở Từ Châu đến 10 tuổi à?”

Khương Ly đáp “Vâng”, Tiết Lan Thời lại hỏi: “Ngoài cha mẹ nuôi của con ra, không còn người thân nào khác sao?”

Khương Ly nói: “Vốn còn có nhà biểu thúc biểu thẩm nhưng năm nay lũ lụt, họ cũng gặp nạn rồi.”

Giọng Tiết Lan Thời trở nên thâm sâu: “Đúng vậy, cũng thật trùng hợp, trận lũ lụt mùa hè năm nay khiến Từ Châu chết gần vạn người, người thân của cha mẹ nuôi con cũng không ai thoát nạn. Điều khiến bổn cung bất ngờ nữa là chiếc khóa ngọc bích do ông ngoại của con tặng bao nhiêu năm qua thế mà không hề bị mất. Cũng đúng là trong cái rủi có cái may, năm đó khi bọn buôn người mang con xuống phía Nam cũng không để ý đến nó sao?”

Lý do Khương Ly được Giản Bá Thừa tìm thấy chính là nhờ một chiếc khóa trường mệnh bằng ngọc bích, chiếc khóa ngọc đó là do Giản lão thái gia tự tay chạm khắc. Sau này nhà họ Tiết báo quan tuy nói rõ khi tiểu Tiết Linh bị bắt cóc có mang theo vật này, nhưng không miêu tả chi tiết hoa văn trên đó được, vì vậy nhiều năm qua không ai có thể giả mạo. Đó là một miếng ngọc bích dương chi cực tốt, đến nay vẫn chưa bị mất quả thật rất kỳ lạ.

Khương Ly quả quyết nói: “Là vì năm đó cha nuôi có lòng nhân thiện mua con, nghĩ rằng lỡ như có một ngày con cần đến vật này nên vì tín vật duy nhất này mà đã cho bọn buôn người thêm tiền bạc.”

Tiết Lan Thời đứng dậy, đi vòng ra sau lưng Khương Ly, khẽ giơ tay vuốt lên bả vai mỏng manh của nàng: “Vết sẹo ở đây đã nhiều năm rồi, cũng thật khổ cho con. Năm đó khi con bị bắt cóc, trên người còn đang bị nổi ban.”

Nhà họ Tiết muốn nhận lại Đại tiểu thư đương nhiên không thể đùa giỡn. Tháng 9 tin tức truyền về thành Trường An, Tiết Kỳ không thể đi được nên liền sai Tiết Vũ đến Hứa Châu đón người. Ngoài việc nghe Giản Bá Thừa kể lại đầu đuôi câu chuyện, xác định chiếc khóa ngọc bích không có sai sót, ma ma của nhà họ Tiết còn có một bước nữa là nghiệm minh chính thân, mà điều khiến người nhà họ Tiết càng thêm chắc chắn thân phận của nàng chính là vết sẹo ở sau lưng này.

Khương Ly chậm rãi nói: “Cha nuôi nói lúc đầu mua con về thì vai đã bị bỏng lạnh, họ chỉ nghĩ là bị nứt nẻ, chữa trị rất lâu mới khỏi, vì trì hoãn quá lâu nên mới để lại vết sẹo này.”

Tiết Lan Thời khẽ cười, thu tay lại ngồi xuống: “Con là một đứa trẻ có phúc, những năm qua tuy lưu lạc bên ngoài chịu khổ cực nhưng cũng học được bản lĩnh, nghe nói con vừa về thành Trường An đã chữa bệnh cho không ít người.”

Khương Ly đáp “Vâng”, Tiết Lan Thời liền hỏi: “Giỏi chữa bệnh gì?”

Khương Ly cẩn thận nói: “Con theo sư phụ học rất nhiều thứ, giỏi nhất là bệnh của phụ nhân và bệnh của trẻ con.”

Tiết Lan Thời từ từ gật đầu: “Bổn cung biết, sư phụ của con có tiếng là Thái Huyền Tiên Cô, thường xuyên hành y ở vùng Giang Nam.”

Khương Ly về thành Trường An đã hơn 10 ngày, nhưng hôm nay mới được Tiết Lan Thời triệu kiến, nguyên nhân đương nhiên không phải là bà ấy bị bệnh mà phần lớn là để dò la lai lịch thật giả của nàng ở giang hồ. Khương Ly thản nhiên đáp lại: “Vâng, Thái Huyền là tiểu tự của sư phụ, người vốn là người Liên Châu, giờ đang sống ẩn dưỡng bệnh ở núi Việt Tú, có một vị sư huynh hầu hạ bên cạnh người.”

Tiết Lan Thời khẽ gật đầu, lúc này An Lạc Quận chúa Lý Yên không nhịn được nữa tiến lên nói: “Ai cũng nói cô cứu sống Trịnh Thiên Sơn, Môn chủ Liệt Đao Môn đã tắt thở 7 ngày, nói cô có thể cải tử hồi sinh, có thật không?”

Lý Yên mới 15 tuổi, có đôi mắt hạnh má đào, giọng điệu cũng có phần ngây thơ, Khương Ly mỉm cười nói: “Quận chúa, người hành y không phải thần tiên, không thể thật sự cải tử hồi sinh. Ta quả thật đã cứu sống Trịnh Môn chủ nhưng lúc đó ngài ấy vẫn chưa chết.”

Lý Yên càng thêm tò mò: “Chưa chết? Nhưng chẳng phải sắp chôn rồi sao?”

Khương Ly mỉm cười: “Trịnh Môn chủ lúc đó là bị kẻ gian hãm hại, danh tiếng của ngài ấy trong giang hồ rất cao. Nếu hung thủ chỉ dùng một phương pháp thì dù danh y thiên hạ dốc sức cứu chữa, Trịnh Môn chủ cũng không chết được. Vì vậy hung thủ hãm hại ngài ấy đã cố ý dùng kế nghi binh, lúc đó Trịnh Môn chủ trúng hai loại độc, các y gia đến chữa bệnh đã tìm mọi cách giải độc nhưng Trịnh Môn chủ không những không tỉnh lại mà ngược lại còn tắt thở, lúc này mọi người tưởng ngài ấy đã chết, lại không ngờ rằng, đây chính là kế sách của hung thủ…”

Ánh mắt Lý Yên sáng rực lên, ngay cả Tiết Lan Thời cũng nghe chăm chú, Khương Ly nói: “Thật ra khi giải loại độc thứ hai, hung thủ đó đã trà trộn vào trong số các y gia đến chữa bệnh. Hắn ta nhân cơ hội khám bệnh dùng kim độc cực nhỏ phong tỏa sáu huyệt Đại vũ, Thừa quang, Phong phủ, Thần đường, Phách hộ, Hồn môn của Trịnh Môn chủ, vừa giải độc cho ngài ấy vừa khiến tâm mạch ngài ấy suy yếu rơi vào trạng thái giả chết. Mọi người thấy đã dùng hết cách mà Trịnh Môn chủ lại tắt thở nên chỉ nghĩ rằng Trịnh Môn chủ chết do độc chưa hết, nếu Trịnh Môn chủ bị đưa đi chôn cất thì ngài ấy sẽ bị chết ngạt. Mà ta lúc đó đang hành y dưới chân núi Liệt Đao Môn, nghe xong bệnh trạng của Trịnh Môn chủ liền đoán ra được điểm mấu chốt, may mà Trịnh Môn chủ có nội lực thâm hậu bảo vệ cơ thể, lúc ta đến vẫn còn kịp.”

Chuyện này xảy ra ở trong giang hồ, sau đó lan truyền đến thành Trường An, nhưng không ai ngờ chuyện này lại phức tạp như vậy, ánh mắt Lý Yên sáng rực lên nói: “Vậy làm sao cô chỉ nghe bệnh trạng mà đã hiểu được mọi chuyện?!”

Khương Ly cười nói: “Tạng phủ kinh mạch của con người vô cùng huyền diệu, khám bệnh dùng thuốc cần phải tỉ mỉ từng chút, mà bệnh tình biến hóa cũng tất có mối liên hệ nhân quả. Sư phụ của ta giỏi về châm cứu và thuốc thang, biết rõ phương pháp mà các đại phu đó dùng không hề sai sót, nhưng Trịnh Môn chủ lại tắt thở, vậy nên ta liền đoán ra được hung thủ còn có chiêu giết người thứ ba chưa bị phát hiện.”

Lý Yên vô cùng thán phục: “Thì ra là vậy, thảo nào danh tiếng của cô vang xa, là vì cô thông minh hơn các đại phu khác gấp trăm lần.”

Khương Ly mỉm cười không nói gì nữa, lúc này Tiết Lan Thời đã nhìn Khương Ly rất lâu bỗng nhiên hỏi: “A Linh có giỏi chữa bệnh phụ nhân không?”

Khương Ly nhìn bà ấy: “Không dám nói là giỏi, nhưng có thể thử một chút.”

Tiết Lan Thời nhìn nội thị ở cửa, hai nội thị nhìn nhau rồi lùi ra sau hai bước đóng cửa điện lại, Tiết Lan Thời đưa tay ra nói: “Vậy mời con giúp bổn cung bắt mạch một chút.”

Khương Ly tiến lên: “Nương nương khó chịu ở đâu?”

Khương Ly đặt đầu ngón tay lên cổ tay Tiết Lan Thời, Tiết Lan Thời nhìn Khương Ly một lát rồi đi thẳng vào vấn đề: “Không phải là khó chịu mà bổn cung muốn có con.”

Trên mặt Tiết Kỳ bao phủ một tầng buồn rầu, Lý Yên cũng bĩu môi thở dài, ánh mắt ba người đều đổ dồn vào Khương Ly. Khương Ly bình tĩnh không nói gì, chỉ chuyên tâm bắt mạch, ba người cảm thấy như đã đợi nửa khắc đồng hồ mới thấy hàng lông mày thanh tú của Khương Ly hơi nhíu lại.

Tiết Lan Thời trầm giọng nói: “Sao vậy? Bổn cung thật sự không thể mang thai nữa sao?”

Tiết Lan Thời đã 36 tuổi, dù được chăm sóc rất tốt trông như chưa đến 30 nhưng bà ấy là Thái tử phi, Ngự y giỏi nào mà chưa từng gặp qua? Nếu không phải Khương Ly có danh tiếng lẫy lừng ở giang hồ thì bà ấy cũng không đặt nhiều hy vọng vào người cháu gái này, vì vậy cho dù Khương Ly có nói bà ấy không thể mang thai nữa thì bà ấy cũng không quá thất vọng.

Nhưng sau khi bà ấy hỏi xong, Khương Ly lại im lặng một lúc rồi mới nói: “Nương nương không phải là không có khả năng mang thai nữa.”

Tiết Lan Thời đã chuẩn bị sẵn tâm lý, đột nhiên nghe thấy lời này thì vẻ mặt chợt thay đổi. Lúc này Khương Ly cũng nghiêm nghị nói: “Nhưng trước khi muốn có con, nương nương nên giải độc trước.”


Bình luận

Bình luận về bài viết này