Khi tới phủ Nghi Dương Công chúa đã gần giờ Dậu. Khương Ly dẫn theo Hoài Tịch bước vào cửa phủ, rồi đi theo một lối khác với hôm qua để vòng sang hướng Đông, băng qua hai khu vườn tuyết phủ trắng xóa, đến trước một tiểu viện thanh nhã, tinh tế.

Vừa bước vào viện, Khương Ly đã thấy trước phòng chính, Bùi Yến mặc trường sam đứng thẳng, tao nhã như ngọc. Đứng trước mặt hắn là một công tử trẻ tuổi anh tuấn trong bộ y phục gấm thêu, chính là tiểu công tử nhà Binh bộ Thượng thư, Ninh Giác. Tay hắn ta cầm thanh kiếm ba thước, đang tha thiết nói gì đó với Bùi Yến.

“Công tử, Tiết cô nương đến rồi —”

Cửu Tư sau lưng khẽ nhắc một câu, Bùi Yến liếc nhìn, không đợi Ninh Giác nói xong đã sải bước về phía Khương Ly. Thấy hắn có mặt tại phủ Công chúa, Khương Ly cũng không lấy làm lạ. Nhưng nơi này không phải hiện trường vụ án, việc hắn lại xuất hiện đúng lúc khiến nàng khó tránh khỏi có vài phần cảm giác khó nói nên lời.

Nàng khẽ cúi người hành lễ: “Bùi Thiếu khanh.”

Bùi Yến khẽ nâng tay, đi thẳng vào vấn đề: “Huyện chúa mắc chứng động kinh, hôm qua kinh sợ nên tái phát. Giờ Công chúa đang ở trong phòng cùng Huyện chúa, Bạch Thái y của Thái y thự cũng có mặt.”

Hắn nói liền một hơi. Nghe nhắc đến Bạch Kính Chi cũng đang ở đó, Khương Ly biết là thời cơ thuận lợi, nhưng tất cả lại có vẻ quá thuận lợi. Trong lúc nàng đang quan sát Bùi Yến, thì Ninh Giác cầm kiếm bước tới.

Ninh Giác độ tuổi đôi mươi, từ nhỏ đã được luyện võ nên khí chất càng dứt khoát hơn so với các công tử thế gia khác. Hắn ta bước đi nhẹ nhàng, mái tóc buộc cao khẽ đung đưa càng khiến hắn ta có vẻ hào sảng hiên ngang. Hắn ta lên tiếng hỏi: “Tiết cô nương thật sự là Thần y Mộc Lan trên giang hồ sao?”

Giờ nàng đã nhận tổ quy tông rồi, vậy mà hắn ta vẫn tỏ vẻ nghi ngờ. Ánh mắt hắn đánh giá nàng từ đầu đến chân, nói dễ nghe thì là thẳng thắn, nói không dễ nghe thì đúng là vô lễ. Nhưng Khương Ly chẳng để bụng, khẽ gật đầu: “Là ta.”

Ninh Giác nheo mắt lại: “Vậy có thể lĩnh giáo cô nương một chiêu được chăng?”

Chưa kịp đợi Khương Ly trả lời, hắn ta đã bất ngờ vận kình, hóa chưởng thành quyền đánh tới. Khương Ly nhíu mày định né tránh, Hoài Tịch phía sau cũng thất thanh: “Cô nương —”

Chưa kịp nói xong, chỉ trong chớp mắt, Bùi Yến đã bước nửa bước chắn trước Khương Ly. Thấy thế quyền của Ninh Giác không thể thu lại, hắn đưa tay đỡ, cổ tay xoay nhẹ, “bụp” một tiếng, đánh bật Ninh Giác lùi ba bước.

Khương Ly hiếm khi thấy Bùi Yến ra tay. Giờ thấy Ninh Giác chật vật lùi lại, mà toàn thân Bùi Yến lại toát lên khí thế nghiêm nghị khiến người khác không dám lại gần, lòng nàng dâng lên một cảm giác xa lạ.

Nhưng nàng không thấy được trong mắt Bùi Yến còn vương hàn ý, quát khẽ: “Ninh Giác, ngươi làm gì thế?”

Ninh Giác loạng choạng đứng vững, nửa người còn tê rần, hắn ta ôm vai nhăn mặt: “Sư huynh, ta chỉ muốn lĩnh giáo thôi mà. Dạo này huynh không ra ngoài mấy, không biết trên giang hồ đồn đủ điều. Có người nói Thần y Mộc Lan có võ công cao cường, có người lại bảo nàng bị trọng bệnh, sắp không sống nổi nữa. Nay thấy nàng vẫn khỏe mạnh, ta chỉ muốn thử chút thôi!”

Hắn ta nói đầy hùng hồn: “Vừa rồi ta chỉ dùng hai phần lực, mà nàng đâu phải mấy tiểu thư yếu đuối trong thành Trường An… A… Đau quá, sư huynh ra tay nặng quá!”

Miệng hắn ta méo xệch đầy tội nghiệp, nhưng lông mày Bùi Yến vẫn đầy lạnh lẽo: “Ngươi muốn luận chiêu, Tiết cô nương đã đồng ý chưa? Dù là giang hồ cũng không đến mức ra tay bất ngờ thế này. Tiết cô nương là khách quý của Công chúa, ngươi học lễ nghi kiểu gì vậy?”

Ninh Giác đã luyện võ từ nhỏ, luôn ôm mộng hành hiệp giang hồ. 5 năm trước hắn ta bái nhập Lăng Tiêu Kiếm Tông, là sư đệ đồng môn với Bùi Yến, do hay đi xa, nên đã quen tính không câu nệ tiểu tiết. Với hắn ta, Thần y Mộc Lan là nhân vật nổi danh giang hồ, cao thủ gặp nhau, sao lại không lập tức so chiêu?

Tự thấy mình không sai, nhưng hắn ta chưa từng thấy Bùi Yến nghiêm khắc đến vậy, đành ho khẽ, chịu lép vế: “Được rồi được rồi, là ta thất lễ.”

Vừa nói vừa chắp tay cúi người với Khương Ly: “Tại hạ Ninh Giác, mong cô nương tha thứ cho sự đường đột. Mấy năm nay ta quen sống phóng túng bên ngoài, thật sự có chút vô lễ.”

Trong mắt Bùi Yến vẫn còn hàn ý, Khương Ly nhìn bóng lưng hắn chắn phía trước mình, nàng bước sang bên cạnh nửa bước, khẽ cười nói: “Không sao, nhưng e là ta đã làm Ninh công tử thất vọng rồi, thật ra ta không biết võ công.”

Ninh Giác sững sờ: “Hả? Cô nương thật sự không biết ư.”

Hắn ta nhìn kỹ lại nàng, thấy hơi thở nàng đều đặn, không giống người có nội công thâm hậu mới tin vài phần, lại nghi ngờ: “Vậy cô nương đi lại giang hồ kiểu gì…”

Chưa dứt lời, cánh cửa phòng chính “két” một tiếng mở ra, Nghi Dương Công chúa và Phò mã Thôi Phi đứng nơi cửa. Nghi Dương Công chúa có dung mạo đoan trang hiền thục, Thôi Phi lại mang phong thái thư sinh, hai người đứng bên nhau thật xứng đôi như ngọc bích.

Nghi Dương Công chúa không vui: “Ninh Du Chi, ngươi đang làm gì vậy? Đây là Trường An, bỏ mấy thói quen giang hồ của ngươi đi.”

“Du Chi” là tên tự của Ninh Giác. Hắn ta không dám cãi Công chúa, chỉ gãi mũi: “Ninh Giác biết lỗi rồi ạ.”

Khương Ly tiến lên hành lễ, Nghi Dương Công chúa nói: “Tiết cô nương không cần đa lễ, mời vào trong nói chuyện.”

Vào đến phòng, Bùi Yến và Ninh Giác cũng theo vào. Nghi Dương Công chúa lo lắng nói: “Bổn cung đã nghe danh về y thuật của cô nương từ lâu. Hôm qua Hoàng tỷ có nhắc đến, hôm nay Hạc Thần cũng nói bệnh của tổ mẫu được chính cô nương chữa khỏi. Tuy bổn cung chưa từng thấy cô nương hành y, nhưng giờ Cẩn nhi phát sốt mãi không lui, ta nghĩ sao cũng phải nhờ cô nương thử một lần. Mời cô nương theo ta —”

Khương Ly liếc sang Bùi Yến, không ngờ người giới thiệu mình lại là hắn.

Bước qua màn rèm phía bắc có thêu hoa văn long phượng là tiến vào phòng ngủ của Trường Lạc Huyện chúa. Trong phòng có hai ma ma và hai nha hoàn đang đứng, Bạch Kính Chi đang cầm toa thuốc, nhíu mày đứng bên giường. Ông ta lúc thì xem đơn thuốc, lúc lại nhìn Huyện chúa, vẻ mặt đầy khó xử. Nghe có người vào, quay đầu thấy là Khương Ly, ánh mắt ông ta tối lại, nhưng vẫn khiêm tốn lùi sang một bên.

Trên giường gấm, Trường Lạc Huyện chúa Thôi Cẩn đang nhíu chặt mày nằm ngửa, mí mắt nàng ấy khép chặt, gương mặt non nớt đỏ bừng, trán lấm tấm mồ hôi. Lúc này hơi thở gấp gáp dồn dập, thỉnh thoảng còn run nhẹ, thoạt nhìn đã biết đang vô cùng đau đớn.

Nghi Dương Công chúa xót xa nói: “Tối qua bị kinh sợ, lúc ấy đã có triệu chứng bất thường. Phò mã đưa con bé về, cho uống một chút cháo tổ yến, chưa bao lâu thì nôn hết ra, rồi bắt đầu sốt cao, trong lúc đó còn co giật hai lần. Chúng ta đã mời Kim Thái y và Bạch Thái y đến chẩn trị, toa thuốc cũng đã dùng, nhưng đến giờ vẫn chưa tỉnh, sốt tuy hạ chút ít nhưng người vẫn mê man, ăn uống không vào, lại thêm phát tác hai lần nữa, giờ Bạch Thái y cũng đành chịu.”

Khương Ly khẽ cúi đầu thi lễ với Bạch Kính Chi, ông ta nói: “Tối qua dùng bài thuốc Sài hồ Quế chi thang, đồng thời châm cứu các huyệt Đại chùy, Yêu kỳ, Bách hội. Ban đầu có cải thiện, nhưng đến sáng nay lại tái phát như cũ, châm lại theo phương pháp cũ cũng không còn tác dụng. Ba hôm trước khi mới về Trường An ta đã nghe qua tên tuổi cô nương, không biết cô nương có cao kiến gì không?”

Nghi Dương Công chúa nói với nàng: “Bạch Thái y rất giỏi chữa bệnh trẻ nhỏ, Tiết cô nương có thể hợp chẩn cùng.”

Khương Ly gật đầu đáp: “Xin cho phép cho thần được bắt mạch trước rồi mới luận bàn.”

Nàng vừa nói vừa xắn tay áo tiến lên bắt mạch, Bạch Kính Chi đứng bên, thỉnh thoảng lén quan sát nàng. Dù ông ta không bài xích nữ y, lại thường hành y bên ngoài nhiều năm, nhưng vẫn lo Khương Ly tuổi còn trẻ, lại xuất thân giang hồ, có khi danh tiếng không xứng với thực lực. Ninh Giác cũng đứng một bên, nghi ngờ không nói thành lời.

Chẳng bao lâu sau đã bắt mạch xong, Khương Ly lại nghiêng người kiểm tra mắt miệng Thôi Cẩn. Thấy nàng ấy cắn chặt răng, lưỡi trắng nhiều, đầu cổ vai và lưng cứng đờ, ấn nhẹ còn co giật, nàng cũng nhíu chặt mày.

Bạch Kính Chi thấy thế, nói với dáng vẻ tiền bối: “Trẻ nhỏ bị động kinh phức tạp hơn người lớn, nếu cô nương không nắm rõ phương pháp thì cũng không sao.”

Nghi Dương Công chúa thấy giữa mày Khương Ly nhíu thành hình chữ “xuyên”, cũng cho rằng nàng gặp khó, trong mắt thoáng lộ vẻ thất vọng, nhưng giọng vẫn ôn hòa: “Đúng vậy, nếu cô nương không chữa được, bổn cung sẽ tìm người khác.”

Vẻ mặt Khương Ly không đổi, quay đầu nhìn Bạch Kính Chi: “Ta có thể xem toa thuốc của Bạch Thái y không?”

Bạch Kính Chi hơi sững người, nhưng thấy nét mặt nàng trong trẻo nghiêm túc thì cũng không giấu giếm, ông ta đưa toa thuốc ra: “Cô nương cứ xem.”

Khương Ly nhận lấy, nhanh chóng lướt mắt qua từng dòng rồi nói: “Phương thuốc của đại nhân rất đúng bệnh, nhưng theo ý kiến cá nhân của ta, có thể bỏ cam thảo, thêm một vị rễ sắn để giãn mạch giúp hỗ trợ bạch thược giảm co giật, ngoài ra còn cho thêm long cốt và mẫu lệ để an thần.”

Bạch Kính Chi không ngờ nàng lại dám chỉnh sửa toa thuốc của mình. Ông ta ngẫm nghĩ: “Rễ sắn có thể thêm, nhưng mạch huyền của Huyện chúa đập rất nhanh, long cốt và mẫu lệ là thuốc mạnh, hơn nữa động kinh là do gan, gan có tính cương, kỵ nhất dùng thuốc cương áp chế.”

Khương Ly gật đầu: “Đại nhân nói rất đúng. Nhưng chứng động kinh còn có nguyên nhân do gân mạch bị co rút, khiến khí huyết không lưu thông, dịch trong cơ thể bị ứ lại, làm cho các hoạt động bên trong cơ thể bị rối loạn, thần trí cũng vì thế mà mất điều hòa. Dùng Sài hồ Quế chi thang bỏ cam thảo giúp điều hòa khí huyết của gan và mật. Quế chi có tác dụng làm dịu khí huyết dồn lên đầu; thêm long cốt và mẫu lệ vào là để giữ cho dương khí không bốc lên quá mức. Hai vị thuốc này phối hợp với bán hạ và phục linh sẽ giúp làm tan đàm gây ra do gan mật bị kích thích. Lại thêm một chút đại hoàng, giúp đẩy hết phần đàm và khí trệ đó ra ngoài theo đường tiêu hóa. Thực ra còn có thể thêm từ thạch để an thần, nhưng Huyện chúa còn nhỏ, ta lo sợ thuốc này sẽ gây ngộ độc.”

Nàng khẳng định: “Tổng thể phương thuốc cũng không khác gì so với ý của đại nhân, đều là để làm dịu gan mật, hạ bớt khí dương bốc lên và làm tan cơn co giật, giúp khí huyết trong cơ thể lưu thông trở lại, làm dịu trạng thái căng cứng, nóng nảy, từ đó ổn định được bệnh động kinh.”

Ánh mắt Bạch Kính Chi thoáng đổi, miệng lẩm nhẩm như đang tính toán các phương thuốc. Nghi Dương Công chúa và Phò mã nhìn qua ông ta rồi lại nhìn sang Khương Ly, nhìn qua nhìn lại mấy lần, cuối cùng Bạch Kính Chi thả giọng: “Cô nương tuổi còn trẻ mà gan dùng thuốc không nhỏ, như vậy cũng đáng thử, chỉ là ta không dám chắc chắn.”

Khương Ly hiểu ý, quay sang Nghi Dương Công chúa nói: “Nếu Điện hạ tin tưởng thì có thể thử một ngày, thần sẽ phối hợp châm cứu, có thể giải được chứng mê man phát sốt của Huyện chúa trong một đêm. Nếu có sai sót gì, thần xin chịu hết trách nhiệm.”

Rõ ràng là Bạch Kính Chi sợ rằng nếu dùng thuốc mạnh mà hỏng việc thì sẽ bị trách, Khương Ly nói vậy đã gỡ bỏ lo ngại cho ông ta. Dù chưa chắc phương thuốc này hữu hiệu, nhưng sự quyết đoán ấy khiến ông ta có phần khâm phục.

Thấy Bạch Kính Chi không phản đối, Nghi Dương Công chúa hít sâu một hơi: “Được, cứ làm theo phương thuốc của cô nương.”

Nghi Dương Công chúa sai người chuẩn bị dược liệu, Khương Ly dặn dò liều lượng xong thì gọi Hoài Tịch mở túi kim châm, bình tĩnh nói: “Hôm qua Huyện chúa vừa kinh sợ lại nhiễm lạnh, giờ ta sẽ châm cứu để trấn tĩnh tinh thần và xua tan hàn khí. Xin ma ma giúp Huyện chúa nằm nghiêng, ta sẽ dùng huyệt sau tai là huyệt Kế mạch.”

Hai ma ma cùng nghiêng người đỡ Thôi Cẩn nằm nghiêng, Khương Ly cầm kim bạc ba tấc, cúi người xuống, châm vào huyệt Kế mạch phía sau tai nàng ấy, nơi đường kinh hơi nổi lên như móng gà. Chỉ nghe Thôi Cẩn khẽ rên một tiếng, chỗ châm đột ngột trào ra một tia máu đen. Khương Ly lau sạch máu, lại bảo ma ma đỡ nàng ấy xoay sang bên kia, tiếp tục châm vào huyệt Kế mạch bên còn lại, cũng thấy máu trào ra, rồi lại lau sạch. Sau đó, Khương Ly cho Thôi Cẩn nằm ngửa, lần lượt châm vào các huyệt đạo trên đầu gồm Toan trúc, Bản thần, Tiền đỉnh, Tín hội, mỗi huyệt cắm kim sâu ba phân, giữ nguyên không nhúc nhích. Cuối cùng, nàng vén chăn thêu, châm tiếp vào huyệt Lâm khấp thuộc kinh Thiếu Dương ở chân.

Những người còn lại nhìn nàng châm cứu đều ngơ ngác. Phu thê Công chúa không hiểu y thuật, chỉ nhìn sắc mặt Bạch Kính Chi, thấy ông ta không có biểu hiện bất thường, bọn họ mới yên tâm hơn phần nào.

Chờ nửa khắc sau, Khương Ly rút kim. Nghi Dương Công chúa xót con, tiến lên muốn đắp chăn lại cho Thôi Cẩn, nhưng Khương Ly ngăn lại: “Điện hạ chờ một chút, xin hãy giúp Huyện chúa nằm úp xuống —”

Vừa rồi đã châm sáu huyệt, Nghi Dương Công chúa biết con gái mình rất sợ đau, cứ tưởng đã xong, không ngờ còn tiếp tục, bà ấy lo lắng hỏi: “Còn phải châm ở đâu nữa?”

Khương Ly đáp: “Còn ba huyệt Thiên trụ, Cân súc, Trường cường.”

Công chúa không hiểu, nhưng Bạch Kính Chi thì biết ba huyệt này nằm ở đâu, sắc mặt ông ấy hơi đổi: “Cô nương thêm long cốt, mẫu lệ là để thu nạp dương khí, mà Trường cường lại là nơi tụ hội của các khí dương toàn thân, vậy châm huyệt này là có dụng ý gì? Gân co rút vốn nên phối hợp với huyệt Dương lăng tuyền và Hành gian, hai huyệt chuyên trị gân mạch co giật, tứ chi không linh hoạt. Thế nhưng cô nương lại chọn châm vào Trường cường và Thiên trụ, vì sao lại làm vậy?”

Khương Ly nhìn các ma ma đang đỡ Thôi Cẩn nằm sấp xuống, vừa thay kim vừa nói: “Lời đại nhân nói đúng, nếu là mùa hè thì có thể chọn ba huyệt kia. Nhưng nay trời giá lạnh, hôm qua Huyện chúa lại bị hàn tà xâm nhập, nên phải phối hợp châm vào Trường cường và Thiên trụ, theo phép tiên tả hậu bổ(*) trước trục tà, sau điều dưỡng… Huyện chúa cần thay y phục, phiền các vị lui ra ngoài chờ một lát.”

(*)Trước tiên phải “tả” (loại bỏ tà khí, độc tố, ứ trệ), sau đó mới “bổ” (bồi dưỡng chính khí, phục hồi cơ thể).

Huyệt Cân súc nằm ngay giữa lưng, còn Trường cường lại ở cuối xương cụt. Sau khi nghe Khương Ly giải thích, mí mắt Bạch Kính Chi giật nhẹ, ánh mắt trợn lên nhìn nàng chăm chú không rời. Phò mã vốn định xoay người ra ngoài, thấy ông ta lộ ra biểu cảm ấy thì hoảng hốt hỏi: “Kính Chi, phương pháp của Tiết cô nương có chỗ nào không ổn sao?”

Bạch Kính Chi bị gọi hoàn hồn, vội lắc đầu: “Không, không có, chẳng qua thần chưa từng dùng qua cách này mà thôi.”

Thấy mọi người đều nhìn mình, ông ta không nói thêm nữa, lập tức quay người rời khỏi phòng. Phò mã và vài người còn lại im lặng trong chốc lát, rồi cũng lần lượt đi ra. Nghi Dương Công chúa thấy biểu cảm đó cũng tỏ ra thắc mắc, Khương Ly bèn khẽ hỏi: “Điện hạ, có phải Bạch Thái y không thông thạo châm cứu không? Vừa rồi thần thấy vẻ mặt ông ta như vô cùng ngạc nhiên.”

Nghi Dương Công chúa gật đầu: “Đúng là vậy. Ông ta giỏi dùng thang thuốc hơn.”

Khương Ly nghe thế thì hiểu rõ, ánh mắt nhìn thoáng về phía ngoài gian, nàng thu lại biểu cảm, tập trung châm cứu cho Thôi Cẩn. Nghi Dương Công chúa thấy hai tay nàng trắng nõn mà vững vàng nhanh nhẹn, dáng vẻ lại bình tĩnh kiên cường, phần nghi ngờ ban đầu cũng đã tan biến hơn nửa.

Còn ở tiền sảnh, Bạch Kính Chi đứng ngẩn ra, vẻ mặt căng thẳng, mắt cụp xuống đầy âm u, không biết đang nghĩ gì.

Thôi Phi càng nhìn càng lo, quay sang hỏi Bùi Yến: “Hạc Thần, bệnh cũ của lão phu nhân thực sự đã nhẹ đi rồi sao?”

Bùi Yến gật đầu: “Bà nội nằm liệt giường nửa tháng, Tiết cô nương tới ngày thứ hai thì đã có thể xuống giường đi lại. Nếu Phò mã không tin, ngày mai có thể đến phủ ta xem thử.”

Thôi Phi khoát tay: “Không phải không tin, chỉ là Tiết cô nương còn quá trẻ. Đừng nói là nữ y, dù là nam đại phu, trong cả thành Trường An này có mấy ai mới 20 tuổi đã có bản lĩnh như vậy, không khỏi khiến người ta lo lắng. Hơn nữa, trước khi châm cứu, chúng ta cũng đã từng cho người thử rồi. Có lần Cẩn nhi chịu đau khổ mà không hiệu quả, có lần châm hai mũi thì lại co giật càng nghiêm trọng. Dùng thuốc thì chỉ cần không phạm sai lầm lớn còn có thể cứu vãn, nhưng châm sai làm tổn thương kinh mạch thì thuốc cũng vô dụng.”

Bùi Yến không nói gì, chỉ im lặng. Lúc này, Ninh Giác hừ lạnh một tiếng: “Nói đến nữ y thiên phú tuyệt đỉnh, xưa nay không phải chưa từng có. Trước đây ở Trường An chúng ta từng có một người —” Giọng điệu Ninh Giác mang theo sự không vui. 

Thôi Phi ngẫm lại, kinh ngạc hỏi: “Ngươi nói là…”

Ninh Giác nghiến răng nói: “Đúng vậy, chính là nghĩa nữ của phủ Quảng An Bá năm đó. Hồi ấy không phải ai cũng nói người đó có thiên tư tuyệt thế, trăm năm khó gặp sao? Sau khi người đó chết, tuy khiến người ta hả dạ, nhưng cũng có người tiếc cho y thuật đó. Sự thật chứng minh, kẻ đó cũng chẳng phải kỳ tài gì. Thiên hạ rộng lớn, người tài lớp lớp, Tiết Đại tiểu thư này chưa chắc đã kém hơn đâu.”

Hoàng thái tôn Lý Dực chết đi chính là cháu ruột của Ninh Giác, mà Ninh Giác lại chỉ hơn Lý Dực 5 tuổi, tuy hai người là cậu cháu, nhưng tình như huynh đệ, lại cùng lớn lên. Với cái chết của Lý Dực, tuy nỗi đau trong lòng người cậu ruột Ninh Giác này không bằng Ninh Trắc phi, nhưng e rằng cũng chẳng kém gì người làm cha ruột là Thái tử. Những năm qua, hễ nhắc tới người nhà phủ Quảng An Bá, với tính cách không giỏi che giấu cảm xúc như Ninh Giác, hắn ta đều là hận thấu xương, khó thể nguôi ngoai.

Thôi Phi khẽ gật đầu: “Nói cũng đúng. Đã từng xuất hiện người như thế, sao biết Tiết cô nương không phải cũng là thiên phú dị bẩm?”

Nói rồi ông ấy liếc nhìn, thấy sắc mặt Bạch Kính Chi càng lúc càng kém, vội an ủi: “Kính Chi, ngươi đã tận lực rồi. Chỉ là sở trường của ngươi không phải châm cứu, ta và Công chúa Điện hạ sẽ không trách ngươi. Không cần lo lắng quá mức.”

Bạch Kính Chi đổ mồ hôi đầy trán, vội đưa tay lau, khom người nói: “Tạ ơn Phò mã thông cảm, hạ quan vô cùng xấu hổ.”

Bạch Kính Chi đã ngoài 40, nhưng lại bị một nữ y 20 tuổi vượt mặt, sắc mặt có chút khó coi, nhưng mọi người cũng không lấy làm lạ. Đợi thêm nửa khắc, nha hoàn từ trong phòng đi ra gọi họ vào.

Trường Lạc Huyện chúa đã nằm yên ổn, khi Khương Ly thu dọn túi kim châm, thuốc cũng được đưa tới. Nghi Dương Công chúa xắn tay áo, tự tay đút thuốc cho Thôi Cẩn. Thấy nàng ấy đã có thể nuốt xuống, Nghi Dương Công chúa mừng rỡ nói: “Tốt quá rồi! Cẩn nhi đã uống được thuốc! Cô nương không biết đâu, hồi trưa đến thuốc Cẩn nhi cũng không nuốt nổi, làm chúng ta sợ muốn chết.”

Chỉ một lát sau, tuy Thôi Cẩn vẫn chưa tỉnh lại nhưng rõ ràng bệnh tình đã chuyển biến tốt, Ninh Giác nhìn mà thầm thán phục: “Đúng là ta đã đoán đúng.”

Khương Ly nghi ngờ nhìn sang, còn chưa kịp hỏi thì Bạch Kính Chi đã xen vào: “Xin hỏi cô nương bái ai làm thầy?”

Khương Ly thản nhiên đáp: “Sư phụ ta là truyền nhân Diệu Thủ Đường, đạo hiệu Thái Huyền Tiên Cô, có lẽ đại nhân chưa từng nghe qua.”

Bạch Kính Chi cố gắng nhớ lại, nhưng khổ nỗi ông ta ít tiếp xúc với người giang hồ, đành lắc đầu nói: “Cô nương vừa nói mùa hè phải dùng cách châm khác, là sao?”

Khương Ly mỉm cười: “Mùa hè phát bệnh động kinh thường do nóng xâm nhập vào gan mật, nên cách châm cứu đương nhiên sẽ khác.”

Lời của Khương Ly đơn giản dễ hiểu, nhưng lại làm cho câu hỏi của Bạch Kính Chi trở nên thừa thãi. Ninh Giác lập tức nheo mắt nhìn ông ta một cái: “Bạch Thái y hỏi vậy… Chẳng lẽ cái đó cũng không biết?”

Bạch Kính Chi đổ mồ hôi như mưa, vội vàng đáp: “Tất nhiên là biết, chỉ là vì Tiết cô nương xuất thân giang hồ nên ta…”

Ninh Giác hừ lạnh: “Bạch Thái y khinh thường y sĩ giang hồ sao? Thiên hạ rộng lớn, chẳng lẽ chỉ có người vào Thái y thự, có quan hàm mới là lương y? Bạch Thái y đúng là hẹp hòi.”

Ninh Giác vốn ưa thích sự tự do của giang hồ, từ nhỏ đã bị chê là không có chí lớn, chịu mỉa mai bao năm nên hắn ta ghét nhất là có người coi thường giới giang hồ. Huống chi hắn ta vốn trọng thực lực, nể người tài, nên chỉ trong khoảnh khắc đã nhìn Khương Ly với con mắt khác, lại biết nàng xuất thân từ gia đình làm nghề y trong giang hồ, càng sinh lòng quý trọng.

Khương Ly nghe xong, trong lòng lóe lên, ngẩng đầu đánh giá Ninh Giác. Còn đang quan sát thì đã cảm giác có một ánh mắt nặng nề rơi lên người mình. Nàng đảo mắt nhìn sang, thấy Bùi Yến đang lặng lẽ quan sát mình.

Bốn mắt giao nhau, Khương Ly đột nhiên có cảm giác bị nhìn thấu, vội dời mắt đi, vừa hay thấy Nghi Dương Công chúa đã đút thuốc xong, bèn nói: “Khoảng hai canh giờ nữa Huyện chúa sẽ tỉnh lại. Hãy cho nàng ấy uống thuốc uống cách hai canh giờ rưỡi một lần, mỗi ngày bốn lần. Về phần điều dưỡng ăn uống sau đó, chắc là Bạch Thái y am hiểu hơn, ta không cần nhiều lời.”

Khương Ly không hề tranh công, xem như giữ lại cho Bạch Kính Chi vài phần thể diện. Nghi Dương Công chúa cũng nói: “Rất tốt, vậy từ hôm nay, để Tiết cô nương và Kính Chi cùng chẩn bệnh cho Cẩn nhi. Kính Chi, dù gì ngươi cũng ở lại đến mùa Xuân năm sau, mọi năm đều là ngươi điều dưỡng thân thể cho Cẩn nhi, năm nay cũng vậy đi. Nếu có thể chữa khỏi bệnh cho con bé thì không gì tốt hơn.”

Khương Ly đồng ý, Bạch Kính Chi cũng chắp tay đáp lời.

Sắp xếp xong cho Thôi Cẩn, Nghi Dương Công chúa để ma ma lại trông nom, mấy người bọn họ rời khỏi phòng ngủ. 

Lúc này Nghi Dương Công chúa nói: “Hạc Thần, vụ án của Mạnh Tương, ngươi nhất định phải để tâm. Du Chi, ngươi đã bị kéo vào thì nên an phận một chút.”

Tuy Ninh Giác không phải tông thất, nhưng mẹ hắn ta xuất thân từ Thôi thị ở Bác Lăng, lại là đường tỷ muội với Phò mã Thôi Phi nên hắn ta cũng thường lui tới phủ Công chúa. 

Hắn ta lanh lẹ đáp lời: “Sư huynh đã cho người truyền lời, chẳng phải thần đã ngoan ngoãn đến rồi sao? Thật ra sư huynh không cần phí công trông chừng thần đâu, nếu thần thực sự muốn hại người, cần gì chọn phủ Công chúa? Thần chỉ cần khoác áo gấm ban đêm, lấy mạng hắn là xong, Trường An có mấy nha sai, sao đuổi kịp thần chứ?”

Nghi Dương Công chúa nghe vậy chỉ lắc đầu: “Nơi đây là Trường An!”

Ninh Giác cười hì hì: “Biết rồi biết rồi.”

Lúc này Bùi Yến lên tiếng: “Hiện trường vụ án hôm nay đã được tra kỹ lại, hung thủ không để lại bất kỳ dấu vết nào, ngay cả dấu chân cũng đã bị cố ý xóa sạch. Kẻ này hoặc là cẩn thận đến từng sợi tóc, hoặc là võ công cao cường, dùng khinh công thoát khỏi rừng mai. Nay ngoài lời chứng hai ngày trước, chỉ còn có thể điều tra từ động cơ sát hại của hai nạn nhân, nhưng e rằng phải mất thêm vài ngày nữa.”

Nghi Dương Công chúa gật đầu: “Ngươi làm việc ta yên tâm, cứ dùng hết toàn lực tra án.”

Trời bên ngoài đã gần tối, mấy người cùng nhau cáo từ rời đi. Nghi Dương Công chúa dặn Khương Ly giờ Thân hôm sau hãy đến, rồi lệnh cho nha hoàn đưa phần thưởng đến. Khương Ly tự tay nhận lấy rồi đi ra cổng phủ Công chúa cùng Hoài Tịch.

Bùi Yến và Ninh Giác đi trước, Khương Ly theo sau, Bạch Kính Chi dẫn theo một tiểu đồng đi cuối. Sắp tới cổng phủ, Bùi Yến dừng chân đợi chốc lát, đợi Bạch Kính Chi và Khương Ly đến gần, Bạch Kính Chi cáo từ rời đi. Ông ta vừa đi khỏi, Bùi Yến nói: “Mấy ngày nay bà nội đã khá hơn nhiều, người muốn mời cô nương đến phủ để cảm tạ.”

Khương Ly có phần bất ngờ, rồi nói: “Đa tạ ý tốt của lão phu nhân, nhưng ta đã nhận lễ vật, không cần cảm tạ thêm. Hai ngày nữa ta sẽ đến phủ tái khám, xin lão phu nhân tĩnh dưỡng thật tốt là được.”

Ninh Giác nhìn Bùi Yến rồi lại nhìn Khương Ly, mở miệng hỏi: “Tiết cô nương, sao mà bệnh người già bệnh hay trẻ con gì cô cũng trị được vậy?”

Khương Ly còn chưa kịp đáp, Bùi Yến đã nói: “Ngươi cũng muốn được khám à?”

Ninh Giác ưỡn ngực: “Sao có thể! Ta khỏe như trâu mà!”

Bùi Yến nói: “Tốt, vậy thì ngươi hãy đi một chuyến đến nha môn Đại lý tự, thuật lại lời hôm nay lần nữa.”

Ninh Giác nghe xong mặt mày nhăn nhó. Khương Ly khẽ khom người: “Vậy ta xin cáo từ trước.”

Nàng nói xong thì xoay người rời đi, chỉ nghe Ninh Giác phía sau lẩm bẩm oán trách, nhưng không dám nói lớn, không rõ Bùi Yến nói gì mà Ninh Giác lập tức im bặt.

Xe ngựa rời khỏi phường Phong Nhạc, Hoài Tịch khẽ hỏi: “Cô nương, thử thăm dò Bạch Kính Chi như vậy có quá mạo hiểm không?”

“Không đâu. Lời hôm nay chỉ là đạo lý bốn mùa đơn giản nhất, đại phu khác cũng biết. Càng là kẻ có tật, càng dễ mắc câu như chim sợ cung.” Gương mặt Khương Ly không chút dịu dàng, nàng gõ gõ vách xe, dặn Trường Cung: “Đi đến ngõ Phù Dung, phường Diên Khang…”

***

Sáng hôm sau, Khương Ly dặn Tiết Kỳ một tiếng rồi lên xe tiến thẳng ra ngoài thành.

Đạo quán Tam Thanh nằm dưới chân núi Minh Loan, phía đông hồ Huyền Vũ, cách thành Trường An khoảng một canh giờ đường đi. Ngựa nhà họ Tiết là bảo câu xứ Sóc Bắc, chưa tới giữa giờ Tỵ đã dừng ổn thỏa ngoài đạo quán Tam Thanh.

Giữa mùa đông giá rét, trong thành đã tuyết phủ trắng xóa, ngoài thành càng là núi non tuyết phủ mênh mông. Đạo quán Tam Thanh dựng sát sườn núi, cũng chìm trong sắc trắng tinh khôi. Vì trời lạnh, dưới chân núi Minh Loan hầu như không có hương khách, ngoài đạo quán cũng vắng vẻ thanh tĩnh. Chính vì vậy, Khương Ly vừa xuống xe liền biết Quách Thục Dư đã đến.

Trên đường núi trước đạo quán đỗ một cỗ xe quen thuộc và mấy con tuấn mã, hẳn là Quảng Ninh Bá không yên tâm nên đã phái thêm hộ vệ bảo vệ Quách Thục Dư. Khương Ly khoác áo choàng cổ lông hồ trắng nguyệt, bước tới trước cửa đạo quán. Tiểu đạo sĩ dẫn hai người vào, qua cửa Long Hổ, điện Tam Quan, đến điện Ngọc Hoàng thì thấy bảy tám vệ binh đang đứng gác bên ngoài.

Nàng chậm rãi bước tới cửa điện thì thấy trong đại điện tĩnh lặng, Quách Thục Dư đang quỳ trước tượng Ngọc Hoàng Đại Đế khấn nguyện.

“Xin người phù hộ cho linh hồn của Tương nhi sớm được siêu sinh chuyển kiếp, cho hung thủ hại nàng ấy sớm lộ mặt, cầu người phù hộ cho Nhạc bá mẫu bình an sống lâu trăm tuổi, phù hộ cho tín nữ tiêu tai giải nạn…”

Quách Thục Dư chắp tay thành khẩn, đôi mắt nhắm chặt, vô cùng thành tâm. Khi nghe nàng ấy cầu nguyện cho Mạnh Tương và Nhạc phu nhân, trong lòng Khương Ly không khỏi lay động nên nàng không lên tiếng. Đợi đến khi Quách Thục Dư cầu nguyện xong đứng dậy mới phát hiện ra nàng.

“Cô nương đến từ lúc nào thế! Sao các người không báo cho ta biết?” Quách Thục Dư nhẹ giọng trách, rồi bước tới đón, nói: “Hôm nay trời lạnh, làm phiền cô nương đi cùng ta rồi. Cô có muốn cầu nguyện không?”

Khương Ly lắc đầu: “Không cần, lát nữa thắp vài ngọn đèn trường minh cho dưỡng phụ dưỡng mẫu của ta là được. Chúng ta lên núi trước đi.”

Quách Thục Dư tỏ vẻ đã hiểu, dẫn Khương Ly đi theo cửa sau đạo quán. Qua điện Hậu Thổ, điện Tử Vi và điện Thiên Hoàng, từ cửa sau phía Tây mà ra khỏi đạo quán sẽ đi lên đường đá dẫn đến đỉnh Tây núi Minh Loan. Do ba mùa xuân – hạ – thu có khách hành hương đông đúc nên đường lên núi Minh Loan được tu sửa rất tốt, đường đá lên đỉnh Tây lại càng rộng rãi, chắc chắn. Giờ còn sớm, nhưng đã có mấy vị đạo sĩ bước qua, để lại một chuỗi dấu chân do luyện công buổi sáng. Mọi người men theo bậc đá chậm rãi đi lên, nếu không nghĩ tới mục đích chuyến đi, thì cũng có đôi chút mùi vị của chuyến du ngoạn mùa đông.

Đi được khoảng hai khắc, Quách Thục Dư thở dốc, chỉ tay về phía khe núi chếch phía Tây: “Hồi đó, thi thể của Doanh Thu được tìm thấy ở khe núi cách đây hai dặm. Nha hoàn đi theo nàng ấy bị hung thủ đánh ngất rồi vứt ở bụi cây bên bờ đầm phía Đông, do bị trói tay chân và bịt miệng, nên dù có tỉnh cũng không thể kêu cứu…”

“Hiện giờ nha hoàn đó ở đâu?” Khương Ly hỏi.

Quách Thục Dư đáp: “Ở bên chỗ Nhạc bá mẫu.”

Khương Ly hơi giãn mày, rồi quan sát đường núi từ trên xuống dưới, nhanh chóng trầm giọng hỏi: “Cơn mưa hôm đó dừng lúc nào?”

Quách Thục Dư thở dài: “Nói ra thì cũng trùng hợp, chúng ta vừa xuống núi thì trời ngớt mưa. Chỗ này nếu đi đường chính lên đỉnh thì mất hơn nửa canh giờ, nhưng xuống chỉ mất chưa đến nửa canh giờ. Khi chúng ta vừa lên đến đỉnh thì bắt đầu mưa, chờ chừng nửa canh giờ mà mưa vẫn không dứt nên Doanh Thu mới xuống núi trước. Sau khi nàng ấy đi khoảng hai, ba khắc thì có người mang dù lên, vừa quay lại đạo quán thì trời đã quang đãng.”

“Nói cách khác, cơn mưa đó chỉ kéo dài khoảng một canh giờ.”

Khương Ly nói xong, một nghi vấn tương tự lại trỗi dậy trong lòng: “Nơi này chỉ có một đường chính lên và xuống núi. Nếu hung thủ đã theo dõi Nhạc cô nương từ trước thì sao lại chọn ra tay ở đây? Sáu người các người cùng đi, lại thêm các nha hoàn theo hầu, rất khó để tách riêng. Chẳng lẽ kẻ đó lại có thể biết trước cơn mưa đó sẽ xảy ra…”

Loading


Bình luận

Gửi phản hồi

Khám phá thêm từ Góc truyện Nhà Miu

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc